Công nghệ kiến trúc của người Việt (Phần 1)

Xây dựng nhà cửa là nhu cầu tối thiểu của một dân tộc đã có tổ chức xã hội. Quá trình đó không chỉ diễn ra một hai trăm năm mà là hàng năm. Bước tiến của khoa xây dựng cũng chậm chạp như xã hội thượng cổ hay xã hội phong kiến, nghĩa là trong hàng vài trăm năm dường như không có thay đổi được bao nhiêu về công nghệ và kiểu dáng ngôi nhà. Từ năm 1900 cho đến năm 1960, hình ảnh của kiến trúc cổ gần như vẫn giữ được hình ảnh cổ lỗ. Những làng mạc tranh tre nứa lá và đắp đất , những nhà ngói sân gạnh, những ngôi chùa kiến trúc gỗ, những mái nhà dốc một tầng rưỡi trong đô thị xen kẽ các vila và công sở theo lối kiến trúc thực dân. Bóc ra từng lớp kiến trúc, chúng ta sẽ được những mặt cắt của các hình ảnh xã hội đã qua, với các phong cách kiến trúc phong kiến, tôn giáo, dân gian và kiến trúc thuộc địa. Ở Hà Nội và Sài Gòn không có những ngôi nhà cao quá cao năm hay mười tầng.

Buộc gióng nhà. Hình vẽ trong sách “Kỹ thuật của người An Nam” của Henri Oger. NXB Thế giới 2009.

Khi tôi sinh ra xung quanh mình là phố phường Hà Nội cổ kính dù đã qua bao cuộc binh đao. Phía bắc đi quá đường Thanh Niên đã là các làng Nghi Tàm, Tứ Liên, phía nam qua khỏi công viên đã là những đầm lầy kéo dài đến tận Thường Tín, phía tây qua ngã tư sở là những làng Nhân Chính, Hòa Mục và những bãi hoang, phía đông cũng chỉ đến Lò Đúc và giáp đê Tô Hoàng và những làng mạc trải dài ven đê sông Hồng. Những phố cổ còn đọng lại trong tranh họa sỹ Bùi Xuân Phái, mà ông cũng chỉ vẽ những năm 1960-1970 thôi. Chiến tranh đi sơ tán, thì nông thôn là những làng mạc lũy tre xanh bao bọc nhà tranh vách đất. Thế giới người Việt ngưng đọng trong những kiến trúc cổ lâu lắm rồi mà mới như được làm từ hôm qua. Và những điều kiện nghèo nàn tận cùng, người Việt cố gắng giữ cho ngôi nhà của mình một hình ảnh văn hóa, chẳng giống chút nào với vài chục năm gần đây khi thoát ra khỏi đói nghèo.

Làng, làng là những quần cư cổ xưa, cũng giống như Bản, Buôn và Pley của các sắc tộc khác. Trong điều kiện hòa bình, thì những quần cư này tương đối lỏng lẻo, trong chiến tranh và bất ổn thì quần cư tổ chức như một ngôi thành nhỏ phòng thủ dựa theo tự nhiên. Thủy, hỏa, đạo , tặc là bốn tai họa mà làng sợ nhất. Nước và Lửa thật khó khắc phục, trộm cướp thì bất ngờ cũng chỉ đứng thứ ba, mạnh như giặc giã thì đứng cuối cùng, vì chúng đi đến đâu người ta cũng biết đến đó và cũng chính lúc dân tộc chung sức. Nếu như buôn, pley của người Tây Nguyên và làng của người Việt mang tính phòng thủ, thì những khu vực rộng lớn, thay vào đó họ xây dựng những ngôi nhà bằng đất nện rất chắc cũng có khả năng phòng thủ. Lũy tre xanh và hào sâu bao bọc kín quanh làng, đường ngang ngõ tắt chỉ có người làng thông thạo, ngay cả thời dùng súng,tấn công vào một làng không dễ. Người dân trong làng thờ ở đình thần Thành hoàng làng. Thành nghĩa là cái tường thành, hoàng nghĩa là cái hào nước, vậy đó chính là thần đất bảo vệ cho cái làng.

Bản của người Tày ở xã Bản Hồ (Sapa, Lào Cai). Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn
Nhà Gươn ở Trung tâm ngôi làng người K’ Tu tại huyện Tây Giang (Quảng Nam). Ảnh: Vũ Lâm.

Thoạt kỳ thủy, làng hình thành rất tự nhiên trên một mảnh đất rất tự nhiên, đương nhiên đó là đất thổ cư không phải đất thổ canh, tức là tốt cho việc ở chứ không tốt cho việc trồng lúa, như vậy đất ở thường cao hơn mặt ruộng, và cũng như ngay từ đầu, người ta thường chú ý đến việc phòng thủ. Quy hoạch làng từ đó sinh ra, gần như có vài mẫu số chung ở đồng bằng bắc bộ. Đó chính là quy hoạch ô bàn cờ tương đối vuông vức, hoặc hơi tròn, có loại dẻ quạt, có loại bám theo một trục đường, chạy dài, chứ không tập chung, thường ở vùng trũng rất thiếu đất cao.

Làng ven đê sông Đuống thuộc địa phận huyện Gia Lâm (Hà Nội). Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn

Có làng bám theo một triền đồi núi, có làng nằm trong thung lũng, có làng dựa vào thế đất có nhiều gò đống, hoặc đắp thêm gò đống để phòng thủ…tức là rất nhiều kiểu làng, bất đắc dĩ mới xây dựng phân tán. Tuy vậy so với các làng ở Vân Nam (Trung Hoa) tính phòng thủ của làng thấp hơn nhiều. Các nhà Vân Nam các ngôi nhà bằng đất xây sát nhau như một cái thành lớn, các sân phơi đều ở trên cao.

Đường làng Mông Phụ (Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội)

Nhà trong làng việt không bao giờ như vậy, mỗi gia đình một nhà nằm trong một khu vườn, tự nhiên hình thành xóm ngõ, mỗi gia tộc hoặc một hai gia tộc, ở cùng một phía gọi là giáp. Và giáp này thường phân bố theo bốn hướng đông – đoài (tây) – bắc – nam, cũng gọi luôn là giáp đông, giáp đoài. Mỗi giáp đều có miếu thờ thần riêng, khi tế đình, mỗi giáp cử người tế miếu giáp trước, trước sự chứng kiến của ba giáp kia. Kẻ đọc văn tế chữ Nho, đọc sai một lỗi thì bị cắm một que hương vào khăn xếp, ai ít lỗi nhất thì được đọc văn tế đình. Nhiều làng lớn, các miếu giáp là nơi trao đổi hàng hóa, buôn bán vặt trong làng. Cạnh đó có một giếng nước chung cho cả giáp.

Cổng đình làng Hội Xá, nằm bên ngoài đê sông Đuống trên địa phận huyện Gia Lâm, Hà Nội, kiến trúc khoảng thế kỉ 18 – 19.
Ảnh: Phan Cẩm Thượng

Không hẳn có một sự quy hoạch, nhưng cũng không hẳn không có quy hoạch, sự sắp xếp trong xây dựng làng xã, ở toàn đồng bằng Bắc bộ là khá đồng nhất. Đình làng bao giờ cũng ở trung tâm làng, trung tâm thì nhất thiết phải giữa làng, nhưng người dân các giáp đến đó tương đối thuận lợi. Đình thường có hướng Đông Nam, mặt trông ra bụng của một con sông, tức là dòng sông uốn khúc hướng vào mặt đình. Tức là đất tụ thuỷ, việc làm ăn sẽ thuận lợi. Chùa và đền thường nằm ven làng có vẻ lánh đời. Các tiểu kiến trúc khác như am, quán, miếu mạo, lăng mộ (nếu có) thì tùy chỗ, hoặc ở bãi hoang, hoặc đầu làng, hoặc bến đò, ven đường không cần thiết, nhưng tiện cho tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng.

Trong làng có nhiều đường ngang ngõ tắt, nhưng đường xuyên làng là trục chính, coi như đại lộ của làng. Những làng xây dựng bám theo một triền đê, thì đê chính là đường trục chính, và từ nhiều đê có ngõ chạy thẳng góc sâu vào trong làng. Giới hạn địa chính của làng không quá lớn. thường thì chỉ vài chục đến vài trăm mẫu đất, nếu tính thành hình vuông có thể khoảng 1km mỗi chiều, và trên dưới khoảng đó. Nhưng cái làng không bao giờ vuông vức như vậy, mà thuộc vào địa hình củ thể của bãi thổ cư, thường dựa vào thế đất cao hơn mặt ruộng. Người ta sẽ đào hào xung quanh làng, trên bờ hào phía trong thì trồng những lũy tre, như trên đã nói, và bờ ngoài thì trồng mây, hoặc trồng cây gai. Những loại này thì mọc dầy đặc thì kẻ trộm cướp khó lòng chui được vào làng, cũng như người dân phải ra vào theo vài lối quy định, tốt nhất nên đi qua cổng làng. Cái đó thể hiện con người đoàng hoàng văn minh, cứ chính đạo mà đi, không nên đi ngang về tắt. Oái ăm thay cái đạo lý Quang minh chính đại được các nhà Nho dầy công chuyền bá đó, mà cứ xổng ra một cái là dân tình lại chui lủi, trộm cắp, lấy điều bất chính làm vui.

Bia hạ mã bằng đá xanh trước cổng chùa làng Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội). Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn

Đường làng, giếng làng đầu tiên cũng đắp bằng đất, đến kỳ mưa gió thì lầy lội lắm, nên nhiều làng cũng có quy chế, cứ mỗi khi trai gái thành hôn phải cúng cho làng gạch đá đủ xây mươi thước đường đi, mà lại phải lát gạch nghiêng cho đường vững chãi. Lâu dần, nhiều làng có đường gạch đến từng xóm ngõ.

Giếng nước một làng làm giấy ở Hà Nội. Ảnh Pierre Dieulefils.
Bưu ảnh Đông Dương đầu thế kỷ 20. NXB Thế giới.
Giếng nước cổ cạnh đình Mông Phụ, làng Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội), xây bằng gạch và đá ong.

Giếng làng thường có vài ba cái. Cái có nước trong nhất dùng làm nước ăn thường được đào rất sâu, quây gạch cẩn thận, lòng giếng xếp đá hộc, cối đá hỏng. Người dân thường hay lấy mo cau làm gầu múc nước, ai có tiền thì sắm được gầu bằng tôn, múc được gầu nước cũng vất vả. Người ta không bao giờ tắm rửa ở giếng ăn cả. Còn cái giếng lớn, thường quây tròn có bậc đi xuống, xung quanh là bãi rộng với vài bụi cây, hai bên có nhà tắm tạm thời bằng cót hoặc lá cây, thực ra chỉ để thay quần áo, chiều chiều, khi trâu bò về chuồng, người dân trong làng chia thành hai bè nam nữ, từ già tới trẻ, tắm hai bên giếng khơi này. Và người ta có thể tắm chuồng không vấn đề gì cả. Tục tắm chuồng hai bên còn giữ mãi đến những năm 1965.

Đến gần một làng xã, thường bắt gặp một quán nhỏ ven đường, ngoài đồng, du khách có thể nghỉ chân, uống bát chè xanh từ hàng nước của một bà lão. Vào mùa đông, mưa phùn gió bấc, nhìn từ xa, những quán ven đường đó rất hiu hắt. Đôi khi người ta vẽ một bức tranh thần lên tường của quán và đặt một bát hương. Đầu làng thường có cái miếu nhỏ nép vào gốc đa, trong miếu có bệ thờ, và viết một chữ Thần Lớn. Cửa lớn treo mành mành, tối sẽ có một bà già đến thắp một ngọn đèn dầu heo hắt đặt lên bệ thờ. Cây đa, cây đề đầu làng, treo nhiều bình vôi, thi thoảng có vài bát hương. Buổi trưa, trâu bò và đám mục đồng tụ vào đây hóng mát. Đây là những cây thần nên không ai dám bẻ cành, hái lá cả. Nên có câu: Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề. Những cô gái đồng trinh chết oan, hóa thành ma sẽ nhập vào cây thần này, hoặc phù hộ, hoặc nạt nộ những kẻ vô đạo.

Cổng vào làng Mông Phụ (Sơn Tây, Hà Nội). Ảnh chụp 09/2019
Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn

Vài ông quan to, thường là hoạn quan, nhân thời buổi loạn lạc, thường cáo vua về làng xây sinh từ, tức là những đền thờ sống, và năng mộ của mình. Khu năng mộ này cũng có thể nằm giữa làng, nếu đó là đất của vị quan, cũng có thể nằm ngoài làng, tùy theo đất tốt mà quan chọn, bao giờ cũng có hai khu vực: khu sinh từ tối thiểu gồm một đền thờ, có hương án bài vị, vài nếp nhà và khu năng mộ, xây bằng đá ong có tượng võ sỹ và cô nàng hầu bằng đá, nghê đá, hương án đá, ngai và bài vị cũng bằng đá nốt. Nhà bia ghi công đức của ngài xây gần đó. Đá thể hiện sự sùng bái cái vĩnh cửu. Nhưng trong mộ có quan tài của ngài không thì chúng ta hoàn toàn không biết. Có khi có, thì thường xây rất kiên cố dưới đất đến mươi thước, trong quan, ngoài quách, thi hài được ướp, với rất nhiều phục trang, đồ tùy tang, nhưng vàng bạc rất hiếm có. Có khi chỉ có lăng mà không có quan quách và đó là mộ giả.

Quang cảnh lăng Dinh Hương (Hiệp Hoà, Bắc Giang), cũng là sinh từ của Quận Công La Quý Hầu xây dựng năm 1727.
Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn

(Hết phần 1)

Chương V – Mục 30 – Văn minh vật chất của người Việt / Tác giả: Phan Cẩm Thượng

Đánh giá

0 thích
Upvote Downvote

Total votes: 0

Upvotes: 0

Upvotes percentage: 0.000000%

Downvotes: 0

Downvotes percentage: 0.000000%

Thêm nội dung

Hình ảnh Mã nhúng (Phim / Ảnh)

Trường bắt buộc

Kéo và thả file ảnh vào đây

hoặc

Hủy

Kích thước tập tin tải lên tối đa: 2 MB

Đang xử lý...

Trường bắt buộc

Ví dụ: https://www.youtube.com/watch?v=ACgptpA-fJw

Đang xử lý...

Nếu bạn có công trình, bài viết hoặc tài liệu muốn chia sẻ. Viết bài ngay!

Loading Facebook Comments ...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Công nghệ kiến trúc của người Việt (Phần 1)

đăng nhập

Thông qua tài khoản Mạng xã hội

Chưa có tài khoản?
đăng ký

Khởi tạo mật khẩu

Quay về
đăng nhập

đăng ký

Điền thông tin và bấm nút "Đăng ký"

Captcha!
Quay về
đăng nhập

Xin chào!

hoặc

Đăng nhập

Quên mật khẩu?

Chưa có tài khoản? Đăng ký

Đóng
của

Đang xử lý file...