Công nghệ kiến trúc của người Việt (Phần 2)
Đình Mông Phụ (Sơn Tây, Hà Nội), xây dựng năm 1684. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

Ngô Thị Nhậm viết: “Trời lấy đình để nuôi muôn vật. Đất lấy đình để chứa muôn loài. Người ta lấy đình làm nơi tụ họp”.

Dưới góc độ của nhà trí sỹ này, đình là nơi thiêng liêng, công trình của trời đất phó thác cho con người sinh sống. Nói cách đơn giản nó là ngôi nhà chung của cộng đồng làng xã, giống như nhà Rông ở Tây Nguyên, là nơi sinh hoạt chung của cả buôn làng. Ngôi đình ở đồng bằng Bắc bộ cũng có vai trò như vậy, được toàn dân trong làng chung sức xây dựng và thể hiện ước vọng tinh thần chung của cả làng.

Thờ Thành hoàng làng là chức năng đầu tiên, sau đó là nơi hội đồng kỳ hào kỳ mục của làng hội họp, cuối cùng là nơi tổ chức lễ hội thường niên của làng, thường vào mùa xuân, sau ngày nguyên đán. Khao vọng, thu thuế, xử kiện, tuyên bố thể lệ, chia đất đai, phân bổ việc làng đều diễn ra ở ngôi đình cả. Mặc dầu phục vụ cho tín ngưỡng là nhiệm vụ hàng đầu, nhưng tính tôn giáo trong ngôi đình không mạnh. Thần Thành hoàng được thờ trên hương án, sau này tôn trí vào hậu cung, ngài căn bản không có hình tướng, mà chỉ có bài vị, theo lối thờ vọng. Thần có thể là một tổ nghề từng dậy dân làng, có thể là một vị tướng tham gia vào kháng chiến chống ngoại xâm, có thể là thần sông núi nào đó, hoặc một người thường chết một cách linh thiêng. Ngoài hậu cung và gian chính giữa ra, toàn bộ không gian ngôi đình dành cho sinh hoạt cộng đồng, thậm chí như đình Mông Phụ, ở Đường Lâm, trẻ con được tự do chơi trong đình thường nhật, mà bất cứ ai không được phép ngăn cản.

Gian chính giữa đình Chu Quyến (Ba Vì, Hà Nội), nơi đặt bài vị thần thành hoàng làng, luôn được khép kín và nối liền với hậu cung. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn

Ngôi nhà sàn là kiểu mẫu đầu tiên của đình làng. Hình vẽ cổ xưa của chúng có thể thấy trên trống Đông Sơn. Ngày nay thì những nhà sàn của người Thái, người Mường vẫn tương tự như những ngôi đình cổ nhất. Với bốn vì kèo tạo ra ngôi nhà ba gian, có thể vẩy thêm hai chái, gọi là ba gian hai chái, là đơn vị cơ bản của kiến trúc cổ bằng tre bằng gỗ. Ngôi nhà sàn tạo gian như vậy, nhưng không chia trung tâm như nhà đồng bằng, mà đi vào từ hai đầu. Như vậy hai vì kèo tạo ra một gian, và vì kèo dựa theo hệ thống cột, bao gồm cột chính và cột phụ. Trong ngôi đình, người ta chia làm ba loại cột: cột cái, cột quân, cột hiên, tính từ trong ra ngoài. Nhà sàn hầu hết chỉ có hai hàng cột, cột chính bên trong, sát tường là cột phụ, còn bên vẩy thêm hành lang người ta ốp thêm hàng cột thấp thụt vào đôi chút so với giọt gianh.

Nhà sàn của người Mường ở huyện Bá Thước (Thanh Hoá). Những nhà sàn vùng này có kích thước rất lớn, mặt sàn có thể rộng 20m, chiều dài 80 – 120m.

Những nhà sàn đơn, người ta thiết kế bếp ngay trong nhà. Nhưng nhiều gia đình làm thêm một ngôi nhà sàn phụ bé hơn nối sát nhà sàn chính, làm bếp, thì nhà sàn lớn hoàn toàn dùng cho sinh hoạt  khác, trừ ăn uống. Bên trong có thể phân thành từng buồng theo số gian cho các đôi vợ chồng trẻ, nhưng vẫn để lại khoảng rộng cho sinh hoạt đại gia đình. Mái nhà sàn thấp xuống sát mặt sàn, lợp bằng cỏ gianh, có thể chống mưa, nắng, và chống nóng hiểu quả. Ngày nay khi cỏ gianh ngày một hết, người dân thay mái bằng tôn xi măng, thì nhà sàn nóng vô cùng, nhất là buổi giữa trưa. Gầm nhà sàn, cũng được sử dụng. Một vài nơi, để cho trâu bò sống, vài nơi khác dồn chuồng bò ra ngoài, gầm sàn làm nơi cho trẻ con, và phụ nữ dệt vải.

Nhà sàn của người Mường ở huyện Quan Hoá (Thanh Hoá), nhà chính được nối thêm gian phụ để làm bếp. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn

Ngôi đình là nơi tổng hợp kiến trúc gỗ lấy vì kèo làm cơ sở. Cột to, mái cao, chiếm đến hai phần ba chiều cao. Do sàn đình cao, mái thấp, nên trong nội thất đình ánh sáng không bao giờ rọi thẳng vào được, mà chỉ có ánh sáng phản quang. Ánh sáng bên trong có cường độ yếu, vào trung tâm đình thường tối, nhưng cũng vì thế mà rất mát. Cách thức này được ứng dụng vào các loại kiến trúc dân sự, rất phù hợp với khí hậu nóng về mùa hạ, và rét về mùa đông. Sàn và chất gỗ còn có tác dụng chống ẩm.

Nội thất đình Chu Quyến (Ba Vì, Hà Nội), kiến trúc đình làng thế kỷ 17.

Những đình cổ bao giờ cũng có sàn và chỉ có duy nhất một ngôi đại đình nằm trên bãi đất rộng, xung quanh có ao hồ để đình soi bóng xuống nước, nên trông nó giống một con thuyền. Với ngôi đại đình độc lập như vậy, nếu trong làng có những tai họa tập thể, như hỏa hoạn, dịch bệnh lũ lụt, người ta nghiên cứu lại hướng đình và dịch chuyển nó ngoảnh mặt theo hướng khác được cho là có lợi hơn, đỡ tai ương hơn. Nên có câu: Toét mắt là tại hướng đình/ Cả làng cùng toét đâu riêng mình em. Việc định hướng đình tuy vất vả, nhưng không quá khó khăn. Người ta dỡ hết ngói trên mái nhà xuống, xoắn dây chão xung quanh chân cột, lồng đòn nâng bổng ngôi đình lên và xoay về hướng thích hợp.

Nội thất đinh Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội), khoảng thế kỷ 17, các vì kèo gỗ rất cao tạo nên kết cấu và không gian bên trong ngôi đình. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn

Khi làng xã phát triển, người ta có xu hướng quy hoạch cố định ngôi đình. Một cái hồ hình bán nguyệt được đào phía trước, tiếp đến là cổng trụ với ba cửa (tam quan), thảng hoặc có những ngôi đình xây cổng ngũ quan (năm cửa), như cổng đình Hội xá (Gia Lâm) trước đây. Sân rộng hai bên có hai tòa giải vũ, gọi là tả vu và hữu vu (tức là hai hành lang, khi hội họp đông người), rồi trước mặt Đại đình, xây thêm tòa Tiền tế, tức là nhà bầy biện tế lễ, trước khi tiến vào đại đình. Ngôi đại đình, người ta nối thêm một hậu cung, để đặt riêng bàn thờ thần Thành hoàng và đồ tế tự quý hiếm. Đại bộ phận các tòa đại đình được xây dựng vào cuối thế kỷ 17, còn từ đó trở về sau, người ta bổ sung dần các thành phần khác như trên đã miêu tả.

Đình Phất Lộc (Hưng Hà, Thái Bình), xây dựng khoảng thế kỷ 17. Quy hoạch ao nhỏ, ngũ quan, tả vu, hữu vu, sân, đại đình tạo nên cảnh quan kiến trúc hoàn chỉnh cho ngôi đình.

Người nông dân có thể xây dựng nhà ở thông thường, nhưng xây đình chùa, họ phải cậy nhờ đến các phường thợ thổ mộc nề ngõa thạch. Như vậy đình chùa luôn được các thợ chuyên nghiệp xây dựng, tính chuyên nghiệp ở đó rất cao. Có thể một phường làm được các việc thổ mộc và nề, tức là thợ làm đất, thợ mộc, thợ nề (xây dựng). Những gạch ngói (ngõa) phải đặt hàng từ những lò gốm chuyên nghiệp khác, như Bát Tràng, Phù Lãng, Hương Canh, Thổ Hà, còn chạm khắc đá chân cột (thạch tảng) và bia đá, tháp đá lại phải mời các thợ đá chuyên nghiệp từ Kính Chủ (Hải Dương), Ninh Vân (Ninh Bình), Núi nhồi (Thanh Hóa) hay thợ Chàm đến tận công trình làm. Mọi kiến trúc cổ đều lấy tính đăng đối làm cơ sở. Thông thường, để cho ngôi đình hai bên không quá đăng đối, người ta sẽ ngăn bổ dọc đình, mời phường thợ thống nhất thông số, rồi mỗi bên thi công một nửa.

Hai bên rường cánh đối xứng quan gian chính giữa đình An Cố (Tiền Hải, Thái Bình), kiến trúc thế kỷ 17 – 18. Ảnh Nguyễn Anh Tuấn.

Chí ít là khâu trang trí từ ngoài vào trong, nên các cổ đình,thường hai phần trang trí hai bên rất khác nhau. Còn nếu hai phần hai bên, hai bộ phận vì kèo cũng rất khác nhau, tức là chúng được hai phường thợ thi công. Nếu có hai con rồng chầu mặt trời trên có gờ nóc mái đình, thì phải đảm bảo một con rồng đực, một con rồng cái. Tất nhiên rất khó phân biệt, chúng khác nhau đôi chút về hình dáng, tư thế, và con nhỏ hơn tý chút là con cái. Từ đó suy ra, tất cả cặp đôi trong đồ tế tự đều khác nhau đôi chút, ví dụ đôi hạc đứng trên lưng rùa, đôi cá sấu thành bậc, đôi kiếm thờ thì chuôi kiếm chạm một rồng , một phượng. Nhất âm, nhất dương- Một cái, một đực là nguyên lý của sự sống và phát triển. Thần Phật cũng không ngoài quy luật này, là vì các đạo đó cũng bị dân gian hóa.

Đầu dư chạm rồng ở hai vì kèo đối diện nhau qua gian giữa bên trong nội thất đình Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội).

Mái đình là phần quan trọng có tính biểu tượng, nên người ta chú trọng tạo hình cho bộ mái. Câu ca: Qua đình ngả nón trông đình/ Đình bao nhiêu nón thương mình bấy nhiêu, chính là cái đó. Nhiều học giả cho rằng đình làng có hình thức là con thuyền lộn ngược. Thực ra thì chả có gì lộn ngược cả, riêng bộ mái cong về hai đầu và bằng ở giữa chính là hình ảnh y đúc của con thuyền, còn những hàng cột thì nom như những bơi chèo.

Nhà rông của người Ba-nar ở Kontum (Tây Nguyên). Ảnh: Vũ Lâm, tháng 03 – 2009

Ngôi nhà rông Tây Nguyên thì có cái mái hình cái rìu, ngôi nhà cổ của người Indonesia và những ngôi nhà trên trống đồng Đông Sơn lại có mái thu hẹp về phía vì kèo và nở rộng ở phía cao. Kiểu thức cong của mái đình cũng không giống gì với các loại mái nhà trong kiến trúc truyền thống Trung Quốc. Để có thể tạo độ cong lớn, người ta phải thiết kế một tầu mái lớn và dài cong lên dưới rìa mái, và gặp hai tầu mái phía chiều dọc hai đầu. Phía trên gờ nóc kéo thẳng xuống, còn lượn rộng ra hai phía theo chiều cong, tạo độ cong của mái đình, có khi cao tới hai thước. Việc lợp ngói nơi đây cần kỹ thuật hoàn hảo, vì ngói thì thẳng mà mái lại cong lên bốn phía. Người ta vận dụng kỹ thuật lót ngói phía dưới để phía trên giữ được mặt cong nhưng vẫn có mặt phẳng chung. Do đó mái đình thực ra rất dầy, chỗ dầy nhất tới nửa thước . Những người già cho rằng đây là cách để dành ngói, cho những đợt trùng tu đảo mái đình về sau. Giữa hai lớp ngói người ta thường trát một lớp bùn mỏng làm chất kết dính. Cũng chính nhờ chất bùn này mà mái đình như một bộ tản nhiệt, làm cho nội thất đình rất mát.

Mặt trước toà Đại đình đình Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh), kiến trúc thế kỉ 18. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn

Con thuyền – Mái đình, hay cả ngôi đình cũng là con thuyền – chính là biểu tượng của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Nếu nhìn xa hơn, con thuyền bắt đầu là biểu tượng của dân cư Lạc Việt sống bằng săn bắt trên những con thuyền. Họ chẳng trồng lúa, mà thu hoạch thóc từ cây lúa giời, mọc tự nhiên trong sông nước, đặc biệt những vùng trũng, nhưng nước không quá sâu. Từ dân sông nước có khả năng đi biển, người Việt bị người Trung Hoa dồn vào đồng bằng, rồi dần dần định cư, chuyển sang canh tác nông nghiệp. Con thuyền vẫn đi theo họ, vẫn là biểu tượng của người làng, như nỗi hoài vọng một quá khứ hoành tráng đã lui vào dĩ vãng. Trong truyền thuyết Sơn Tinh -Thủy Tinh, người Việt ngả dần về Sơn Tinh, từ chối Thủy Tinh, tức là từ ngư dân đi biển đánh cá biến thành nông dân trồng trọt. Họ xa dần nguồn gốc Nam Á của mình, mất dần tính cách hào sảng, thay vào đó là tính cách trì trệ, ngoan cường, và rất hung hăng mỗi khi cần bảo vệ đất đai, nguồn sống duy nhất. Không như người biển, họ không có chỗ rút lui.

Mái nhà và đầu đao đình Mông Phụ (Sơn Tây, Hà Nội), kiến trúc thế kỷ 17. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn

Trên mái đình có nhiều con vật trang trí. Gờ nóc thường là đôi rồng chầu mặt trăng, mặt trời, gọi là lưỡng long triều nguyệt, lưỡng long triều nhật. Hai đầu nóc có đôi con Kìm (đầu kìm). Từ phần diềm cong đến đầu đao có các con Xô, con Guột, con Nhún. Đến đầu đao thường vuốt thành đuôi phượng. Hai bên chái nhà, khu vực tam giác, gọi là khu đĩ, có hai mặt Hổ phù. Con rồng là biểu tượng của dân nông nghiệp, là thần mưa, là hoàng đế, sự vượt thoát… mặt trăng, mặt trời là chuyển hóa đêm ngày, âm dương. Con Kìm là biến dạng của mặt rồng, có lẽ có chức năng gim hai đầu nóc lại mà  thôi, một chức năng kỹ thuật. Ba con Xô, Guột, Nhún chúng ta không rõ ý nghĩa của chúng. Cả ba con đều biến hình con chó, con chồn. Còn con Hổ phủ, chính là mặt con rồng chính diện, ý nghĩa là mệnh lệnh của vua, là cái bùa trấn yểm đất thiêng.

Các con vật linh trang trí trên bờ mái đình Đình Bẳng (Từ Sơn, Bắc Ninh), kiến trúc thế kỷ 18. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

Trong đình, long ly quy phượng và hoa lá là những hình trang trí chính, không kể những phù điêu về đề tài sinh hoạt làng xã. Những hình trang trí trên cũng phổ biến trong các kiến trúc tôn giáo khác, và chúng không đặc biệt về ý nghĩa của hình mẫu, mà đặc biệt vì sự tinh khéo của kỹ thuật đục chạm. Những con rồng chiếm hầu hết các trang trí đầu cột và các cốn không chịu lực. Những đầu dư chạm rồng bằng kỹ thuật chạm lộng, nghĩa là đục xuyên thủng từ bên này qua bên kia khối trang trí với nhiều đường nét uốn lượn bên trong. Đuôi rồng ở bên này cột, đầu rồng ở bên kia, tạo ra cảm giác bay xuyên thủng, cái cột nặng nề sẽ trở nên bay bổng.

Trang trí tập trung vào cửa võng của đình. Các trang trí này được phân bố rất cân xứng và đăng đối giả thành những tập hợp theo từng bộ hoa văn. Dưới cửa võng là diềm lớn bố trí thành những ô hộc hình học. Dưới nữa là những lớp hoa văn chồng tầng hoặc theo chiều dọc, hoặc theo chiều ngang rất phức hợp. Tất cả được sơn son thếp vàng, không để mộc như khu vực phù điêu sinh hoạt.

Cửa võng đình Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội), khoảng thế kỷ 17 và Cửa vòng đình Chèm (Từ Liêm, Hà Nội), thế kỷ 17.
Cửa vòng đình An Cố (Tiền Hải, Thái Bình), thế kỷ 17 – 18.
Các chạm khắc trang trí trên lá gió đình An Cố. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

(Hết phần 2)

Chương V – Mục 30 – Văn minh vật chất của người Việt / Tác giả: Phan Cẩm Thượng

Đánh giá

-1 thích
Upvote Downvote

Total votes: 1

Upvotes: 0

Upvotes percentage: 0.000000%

Downvotes: 1

Downvotes percentage: 100.000000%

Loading Facebook Comments ...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Công nghệ kiến trúc của người Việt (Phần 2)

đăng nhập

Thông qua tài khoản Mạng xã hội

Chưa có tài khoản?
đăng ký

Khởi tạo mật khẩu

Quay về
đăng nhập

đăng ký

Điền thông tin và bấm nút "Đăng ký"

Quay về
đăng nhập

Xin chào!

hoặc

Đăng nhập

Quên mật khẩu?

Chưa có tài khoản? Đăng ký

Đóng
của

    Đang xử lý file...