Công nghệ kiến trúc của người Việt (Phần 3)
Chùa Kim Liên (Hà Nội), thế kỷ 18, xây dựng theo lối kiến trúc Trùng thiềm điệp ốc với hệ thống mái kép tạo nên vẻ bay bổng cho cả công trình.

Kiến trúc Phật giáo đi trước đình làng đến năm trăm năm, tất nhiên nhà sàn có lâu đời hơn cả chùa và đình. Trước khi có đình làng mọi sinh hoạt công cộng đều diễn ra ở chùa và đình, như họp chợ, họp cộng đồng làng và dậy học. Nhiều ngôi chùa cho đến nay vẫn giữ được sinh hoạt này. Thời Lý Trần, chùa chiền là một phong cách hoàn toàn khác với những ngôi chùa làng từ sau thế kỷ 15. Kiến trúc Phật giáo Lý chủ yếu là ngọn tháp cao, nằm trên núi với ba bốn lớp nền chồng lên cao dần như một Mandala, trong tháp có một tượng Phật và có thể xung quanh khu vực có tường bao bọc. Ngôi chùa như vậy hoàn toàn không có tăng phòng, Thiền viện, không phải để ở, mà chỉ có tính chất tượng niệm, giống như kiến trúc Phật giáo nguyên thủy. Còn các sư tăng sống quanh đó, đi khất thực, giáo hóa, tu luyện trong hang núi, ngày không ăn hai bữa, không ngủ hai đêm một gốc cây, không nhận tiền bố thí. Đó là những siêu nhân đẹp đẽ, sống cho lý tưởng của Đức Thích ca, không giữ cái gì cho riêng mình cả, lấy sự phổ độ chúng sinh làm lẽ sống.

Chùa Một Cột (Hà Nội), được xây dựng theo kiểu thức Mandala năm 1049, thời vua Lý Thái Tông. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.
Quang cảnh chùa Dạm (Quế Võ, Bắc Ninh), 1097, thời vua Lý Nhân Tông, xây dựng theo kiểu thức chùa núi với nhiều cấp trải dài theo triền núi Lãm Sơn từ trên xuống dưới. Ảnh chụp trên cấp nền thứ 3 của chùa.

Khi các nhà sư tham gia vào hoạt động chính trị thời Lý Trần họ bắt đầu trở thành một thế lực. Đến mức như sử gia Lê Văn Hưu viết: Trong nước, nhân dân nửa là sư sãi, nơi nào cũng có chùa chiền. Ruộng của Phật giáo chiếm một diện tích lớn so với ruộng của nông dân nói chung. Nhiều người trốn phu phen, quân địch trong những cuộc chiến tranh khốc liệt thế kỷ 13,14 bèn nhập tự. Sau khi tiến hành kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, năm 1427, Lê Lợi lên làm vua với một đất nước hoang tàn, của kho rỗng tuếch, nhân tài, thợ giỏi hầu hết bị bắt về Trung Quốc, sách vở bị đốt hoặc đem đi, ông bèn hạn chế Phật giáo, đưa các nhà sư từ 50 tuổi trở xuống hoàn tục, từ 50 tuổi trở lên phải thi, nhằm tăng cường sức lao động và ruộng đất cho nông thôn. Kết quả là những ông sư về làng vẫn tiếp tục hành nghề, và bắt đầu gây dựng những ngôi chùa làng nhỏ. Để trốn tránh những quy định của nhà vua, những ông sư này chỉ tu hành bán chuyên nghiệp thôi. Họ vẫn lập gia đình, sinh con đẻ cái, và kiêm nhiệm vai trò tôn giáo trong làng. Ngôi chùa được xây dựng lên với tiền của của dân làng, nên làng xã có thể đón sư hay đuổi sư tùy theo quan hệ của họ. Đến nay vẫn xẩy ra những câu chuyện tương tự. Người ta gọi những vị sư bán chuyên nghiệp và những người hành nghề tôn giáo khác đó là thầy chùa, ông sãi (coi chùa), ông từ (coi đền), thầy cúng, pháp sư, thầy phù thủy. Mặc dù chức năng có thể khác nhau, nhưng đôi khi có người làm chung cả việc đền chùa và mọi cúng cáp khác.

Chùa Phổ Minh (Thiên Trường, Nam Định), xây dựng năm 1262, là công trình Phật giáo quy mô lớn từ đời Trần. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.
Thượng điện chùa Mãn Xá (Thuận Thành, Bắc Ninh), kiến trúc dấu ấn thời Trần với toà điện thờ hình vuông được tôn cao trên nền chùa chính. Chùa Mãn Xá nằm trong hệ thống tín ngưỡng Tứ pháp cổ ở đồng bằng Bắc Bộ.

Thiền học thời Lý Trần thay đổi một cách căn bản trong hoạt động tín ngưỡng làng xã. Người nông dân không cần hiểu thế nào là giác ngộ, giải thoát, thiền, bát chính, tứ diệu đế… và muốn hiểu thì cũng rất khó khăn. Họ sẵn có thế giới đa thần, bây giờ Phật cũng là một vị thần, nhưng được tôn thờ cao nhất. Rồi nơi nào cũng phải có Phật, thời nào cũng phải có phật, nên sinh ra thập phương, tam thiên thế giới Phật, rồi Phật quá khứ, Phật hiện tại, Phật vị lai… Phật được coi như vị thần có nhiều quyền năng phép lạ, có nhiều mắt để nhìn nỗi khổ của chúng sinh, có nhiều tay để cứu vớt chúng sinh. Nếu có chuyện chẳng lành, thì làm sớ tâu lên Thần Phật, lập đàn cúng sao. Và những tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, dân gian Việt Nam du nhập dần về hệ thống Phật giáo, lại có Nho giáo, Lão giáo nữa, nên ngôi chùa mang tính thần Nho Lão Phật một cách đương nhiên. Làng phát triển đến đâu, chùa phát triển đến đó. Phật giáo dân gian cũng nẩy nở, các bộ Kinh mới cũng được biên soạn cho thích hợp và tinh thần giác ngộ thì ít, cầu cúng thì nhiều. Ví dụ có cả Kinh Cô Ba cháo gà. Con cháu của các vị sư được nhà Lê đưa về làng và những đệ tử mới ngày càng không được học hành như thiền sư Lý Trần, còn nhà sư kiêm nhiệm những công việc nhà nông nói chung, việc Phật pháp và việc thầy cúng cho làng, cho đến tận ngày nay.

Hệ thống vì kèo chùa Dương Liễu (Hoài Đức, Hà Nội), kiến trúc gỗ thời Trần, thế kỉ 13 – 14. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

Từ thế kỷ 16, và đặc biệt trong thế kỷ 17, nhiều hoàng thân quốc thích tìm về Phật pháp do những cuộc khủng hoảng sâu sắc về chính trị, bỏ tiền trùng hưng, xây mới đền chùa trên nền tảng cũ, hàng loạt ngôi chùa thời Hậu Lê ra đời với tinh thần Tam giáo (Nho-Lão-Phật) và được xây cất đẹp đẽ với trình độ kiến trúc và điêu khắc vô tiền khoáng hậu. Những vị sư nổi tiếng và có học nhất được mời về trụ trì những ngôi chùa đồ sộ, trong đó không ít kiều tăng từ Trung Quốc sang thuộc các phái Tào Động và Lâm Tế trong thế kỷ 17. Từ hoàng hậu đến cung phi là những nhà bảo trợ nhiệt tình nhất. Chùa Thầy, chùa Bút Tháp,Chùa Keo, chùa Mía, chùa Phật Tích đều gắn với tên tuổi của các bà hoàng. Nghệ thuật điêu khắc chân dung lập hậu xuất hiện trong chùa ghi lại chân dung của những người bảo trợ, và ruộng chùa lại rộng ra bát ngát.Có những làng mà ruộng chùa nhiều gấp vài lần ruộng của dân.

Hệ thống vì kèo chùa Thái Lạc (Văn Lâm, Hưng Yên), kiến trúc gỗ thời Trần, thế kỷ 13 – 14. Ảnh: T-Group.
Hệ thống vì kèo chùa Thái Lạc (Văn Lâm, Hưng Yên), kiến trúc gỗ thời Trần, thế kỷ 13 – 14. Ảnh: T-Group.

Kiến trúc vì kèo gỗ được xác nhận có từ thời Trần khi khảo cổ học đào được những di chỉ kiến trúc gỗ thế kỷ 13. Tất nhiên người ta cũng xác định được một số ngôi chùa có vì kèo gỗ thời Trần, như chùa Thái Lạc, chùa Dâu, chùa Dương Liễu, qua mặt bằng thượng điện của những kiến trúc có vì kèo thời Trần có thể thấy rằng, tòa nhà này có mặt bằng hình vuông giống như một phương đình. Hai vì kèo lớn bốn chính, nối liền ra bốn góc với những tám cột hiên. Với vì kèo thấp và rất khỏe, mái hiên vẩy ra rất rộng và đầu đao có thể uốn vừa cong vừa cao. Nếu căn cứ vào di tích để lại, có lẽ những ngôi chùa kiến trúc thời Trần cũng rất đơn giản. Có thể cụm kiến trúc chỉ có một ngọn tháp phía trước, một tòa tiền đường, rồi một chính điện sau cùng. Điện thờ Phật cũng rất ít tượng. Theo những ghi chép của Lê Quý Đôn về kiến trúc công sở Thăng Long và Văn Miếu, thì kiểu kiến trúc nội công ngoại quốc đã phổ biến trong kiến trúc thời Lê Sơ thế kỷ 15, xuất phát từ ba tên biến thái: nhà chữ đinh, tức là có một ngôi nhà bằng chữ nhật nối vào chính giữa một nhà dọc, làm hậu cung, và dân gian thường gọi nhà đuôi vồ, nhà chữ công gồm một cụm nhà gồm hai lớp nhà song song nối bới một nhà cầu chính giữa. Hai cụm nhà này nếu có hành lang bao bọc thì gọi là kiến trúc nội đinh ngoại quốc và nội công ngoại quốc.

Hành lang và tháp đá chùa Bút Tháp (Thuận Thành, Bắc Ninh). Dãy hành lang bao bọc các tòa điện thờ nằm trung tâm trên trục thần đạo điển hình cho kiến trúc Nội công ngoại quốc. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

Với thành phần cơ bản như trên, một ngôi đình thời Hậu Lê tối thiểu có các thành phần: Tam quan, Gác chuông, Tiền đường, Thiên hương, Thượng điện và Hậu đường, hai bên có hành lang bao bọc. Tùy từng ngôi chùa mà thành phần này được phân bố một cách khác nhau. Gác chuông có thể đặt trước hay sau chùa, đồng thời thêm ra một số thành phần khác, như Phương đình, Điện thánh, Thủy đình, Nhà bia, Tháp…Như vậy những ngôi chùa lớn, thực ra là sự phối hợp của các công trình cơ bản trong cụm kiến trúc. Những chùa lớn do hoàng gia xây dựng thường có chín công trình kéo dài trên trục dọc xuyên tâm bình đồ kiến trúc. Ví dụ như chùa Bút tháp (Bắc Ninh) được xây dựng từ năm 1640-1691, với chín lớp công trình:Tam quan-Gác chuông-Tiền đường-Thiêu hương-Thượng điện-Tòa Tích-thiện am-nhà Chung-Phủ thờ-Hậu đường. Hai bên có hành lang bao bọc, và nhiều công trình khác như nhà tổ, cầu đá tháp đá và gạch. Kể lệ một cách khô khan như vậy không thể làm rõ vẻ đẹp của những ngôi chùa làng. Chúng ta nói rằng chùa làng, vì từ sau thời nhà Lý Trần, hầu hết các ngôi chùa nằm trên đất của một làng xã nhất định, cũng như do làng xã quản lý. Tất nhiên có chùa nằm ở làng, nhưng thuộc về hoàng triều, và hoàng triều có thể ra lệnh cấm dân chúng không được lai vãng, như trường hợp chùa Bút Tháp. Điều này rất hãn hữu, khi tư tưởng Phật giáo là bình đẳng, bác ái, đất nào cũng là đất Phật, dân nào cũng là Phật tử. Từ sau thế kỷ 18, thì các sắc lệnh cấm dân chúng lai vãng Bút Tháp cũng hết hiệu lực.

Hành lang bao bọc xung quanh chùa Bút Tháp, dựng bằng kết cấu vì kéo lớp lớp nối tiếp nhau tạp cảm giác đi mãi khôn vùng. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

Quanh cảnh làng xã Việt Nam có vẻ đẹp tư nhiên hiếm miền đất nào sánh nổi. Hơn một trăm con sông lớn và vừa bao bọc đất nước chia cắt mọi miền quê như những hòn đảo lớn nhỏ. Thế đất thấp dần theo hướng tây bắc-đông nam, cũng là hướng của dòng sông, từ đó các triền đất hình thành những đồng bằng cũng thấp dần như vậy, và những gò nổi trên đồng bằng được dân cư hình thành làng xã. Đồng xanh, bãi xanh, bụi cây xanh, và những lũy tre xanh…tất cả đồng bằng phủ lên một tấm màn thực vật xanh ngăn ngắt, hầu hết nơi nào cũng dựa vào núi và sông. Cái cảm thức phong quang đẹp đẽ đó thâm nhập vào tâm hồn người Việt, nên bất cứ đồ vật nào họ làm ra cũng mang tính thẩm mỹ (tất nhiên trừ xã hội hiện đại có xu hướng phá hủy môi trường sinh thái tự nhiên làng xã). Ngôi chùa nằm trong cảnh quang như vậy, và nó lại còn luôn được ưu tiên cắm đất tốt. Nên có thể nói mọi ngôi chùa cổ đều là danh lam thắng cảnh. Đi vãng chùa thì giống như đi bảo tàng xem tranh vậy.

Quang cảnh chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều, Quảng Ninh), kiến trúc Phật giáo có nguồn gốc từ thời Lý. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

Nếu ta đến một ngôi chùa Việt và hỏi chùa được xây vào thời nào, thì dân sẽ trả lời vào thời Lý. Tất nhiên vương triều Lý không thể xây hết các ngôi chùa Việt Nam, nhưng họ có mắt địa lý xa rộng hàng ngàn năm. Và cách quy hoạch đất nước của nhà Lý về cơ bản giữ nguyên đến tận bây giờ, ở những khu vực chính như Thăng Long, Kinh Bắc, Sơn Nam, Quảng Yên và Thanh Hoa (vùng Thanh Hóa hiện nay), tức các tỉnh thuộc dải đất đồng bằng và đồng bằng ven biển. Toàn bộ kiến trúc thời Lý nói chung đều nằm trong khu vực này, cũng là nơi hầu hết các ngôi chùa thời Hậu Lê được xây cất. Chưa thể xây dựng, thì cắm đất,và người ta cũng cho rằng, ngôi chùa làng được xây trên đất đã cắm từ thời Lý. Điều đó chỉ đúng một phần căn bản, nếu điều đó tuyệt đối đúng thì có nghĩa mọi làng xã hóa ra được xây dựng đi theo quy hoạch chùa hay sao. Thực tế chứng minh điều ngược lại. Hầu hết làng xã được xây dựng trước, đất làm đình cũng quy hoạch luôn, đền chùa được xây dựng sau. Vào thế kỷ 15. quỹ đất của làng xã khá phong phú, với vài trăm dân mỗi làng, người ta không thiếu đất cho tôn giáo, và người ta cũng sẵn sàng nhường đất tốt cho Thần Phật. Sau chiến tranh chống quân Nguyên và quân Minh, nhiều làng xã thất tán, vương triều phải sát nhập một số làng ít dân vào với nhau.

Tháp Bình Sơn chùa Vĩnh Khánh (Việt Trì, Phú Thọ), thế kỷ 13 – 14, thời Trần, xây dựng theo kiểu thức Mandala với tháp nằm ở trục trung tâm, sau đó là thiền viện. Ảnh: T-Group.

Có núi có sông có đất, xây dựng ngôi chùa Hậu Lê xác định trục xuyên tâm là quan trọng nhất, khác với ngôi chùa thời Lý là xác định trung tâm, do mặt bằng Mandala quy định. Với mặt bằng Mandala trong đó trung tâm là tháp cao, người ta có thể đi vào ngôi chùa từ tất cả các phía, trong khi đó với chùa làng Hậu Lê, ngôi chùa được dàn trải trên 1 trục dọc kéo dài, kiến trúc chính gồm các dẫy nhà nằm chính giữa trục xuyên tâm, và từ đó xây dựng khu vực hai bên, như hành lang, tăng phòng, tháp và khu phụ, tức là lấy trục xuyên tâm làm trục đối xứng, các công trình hai bên phát triển đối xứng. Trong kiến trúc chùa Phổ Minh và chùa tháp Bình Sơn thời Trần, do ảnh hưởng của Mandala nên tháp trung tâm vẫn nằm chính trục xuyên tâm, và sau này là chùa Dâu với tháp Hòa Phong (thời Trần) nằm ở trục trung tâm. Chùa Cổ Lễ (Nam Định) và chùa Thiên Mụ (Huế) do ảnh hưởng của chùa Phổ Minh cũng đặt tháp vào trung tâm trục xuyên tâm. Cách đặt những dẫy nhà trên một trục kéo dài ngôi chùa vào chiều sâu, xen kẽ giữa hai lớp nhà là sân và vườn, làm cho cụm kiến trúc được giãn cách, ngôi chùa có vẻ rộng hơn, so với thực thể của nó. Từ tam quan tới hậu đường, những lớp nhà được thay đổi độ cao. Gác chuông thường cao hai tầng, tám mái, nhà tiền đường bao giờ cũng đặt trên nền cao, các tháp chùa cao hơn nữa, sự thay đổi độ cao những lớp nhà nên nhìn theo chiều ngang ngôi chùa uốn lượn lớp mái như hình con rồng. Các lớp mái cong như những cái cây, hoa sen duyên dáng trong không gian xanh mướt của vườn chùa.

Toàn cảnh kiến trúc chùa Bút Tháp, các tòa điện thờ nằm trên trục Thần đạo với nhiều độ cao thấp khác nha tạo nên nhịp điệu kiến trúc cho cả công trình. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

Thế kỷ 17-18 có sự tranh đua về kiểu dáng các ngôi chùa đồng bằng bắc bộ, dường như không có hai ngôi chùa giống nhau. Đặc biệt các tổ đình do sự tăng đứng đầu các dòng phái và được quý tộc bảo trợ. Chùa thầy (Thiên Phúc tự, Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Tây cũ) với tòa thủy đình xinh xắn trên hồ nước, với hai cái cầu bắc qua hồ nước nhỏ, gọi là Nhật Nguyệt tiên kiều. Còn toàn bộ cụm chùa gấp khúc cao dần theo sườn núi như con rồng uốn lượn. Người xưa có nhã ý lập thế đất hình con rồng. Bờ hồ là hàm rồng, thủy đình là viên ngọc rồng ngậm, Nhật nguyệt tiên kiều là hai hàm răng rồng, hai hồ nhỏ là mắt rồng. Kiến trúc và ý tưởng của ngôi chùa nằm trong vùng núi đá thật phiêu lãng, khiến người ta cảm tượng ngôi chùa giống như một bài thơ, một tác phẩm nghệ thuật hơn là nơi tu Thiền. Chùa keo (Thần Quang Tự, Vũ Thư, Thái Bình) là kiến trúc lớn nhất so với các chùa trước và sau vài thế kỷ, với hai tam quan nội và ngoại, một dẫy dài điện thờ Thánh và điện thờ Phật và kết thúc ở gác chuông ba tầng 12 mái cong.

Chùa Thầy (Quốc Oai, Hà Nội), công trình tiêu biểu cho sự phối hợp giữa cảnh quan núi – hồ nước – kiến trúc, đúng với tinh thần của phương Đông luôn tìm đến sự hòa hợp giữa tự nhiên và con người. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

Mái cong, hay đầu đao là một thành tựu của kiến trúc truyền thống được phô diễn trong các ngôi chùa. Thông thường những ngôi nhà chỉ có đầu đao đơn ở bốn góc. Lối kiến trúc này được các kiến trúc sư Trung Hoa cải tiến thành trùng thiềm điệp ốc-tức là mái có hai tầng, và những ngôi nhà song song sát nhau liên tục, hay nói gọn là nhà sát nhà, mái sát mái. Từ khoảng lên của cột chính người ta nâng mái nhà lên một cấp nữa, tạo thành khoảng trống cao, lấy thêm ánh sáng vào trong nhà. Như vậy ngôi nhà có tám mái và tám đầu đao. Từ dưới đất hướng lên cao các mái xô lệch do góc nhìn, có thể ba góc mái kép cùng một lúc, như bông hoa sen trên mặt nước. Gác chuông chùa Bút Tháp và chùa Trăm gian đều xây hai tầng mái. Tầng hai nâng lên cao hơn ngôi nhà mái kép thông thường. Thiền sư sớm tối lên đó thỉnh bài Thủ nguyện chung thanh siêu pháp giới (Nguyện đánh tiếng chuông này để siêu độ pháp giới). Dân thường cũng có thể lên đó hóng mát và vọng cảnh đồng quê đang nhả lớp khói nhiều.

Gác chuông chùa Bút Tháp xâ dựng theo lối kiến trúc hai tầng tám mái. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.
Các đầu đao của điện thờ chùa Kim Liên. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

Năm 1792, ở Nghi Tàm, Hà Nội người ta đã xây xong ngôi chùa Kim Liên theo kiểu trùng thiềm điệp ốc. Cổng chùa cũng rất đặc biệt, gồm một tam quan chỉ dựa trên một hàng cột, ba cửa, cửa giữa mái kép. Giải phóng được việc chịu lực, kiến trúc gỗ có thể được tạo hình rất bay bổng, như tam quan Kim Liên này. Lấy hình tượng đóa hoa sen vàng nở trên mặt nước, không chỉ tam quan, mà khu chùa chính mới thực sự là đóa hoa sen. Ba lớp nhà liền nhau, mái kép, cách chừng một hàng hiên, nhà giữa hơi thụt vào trong, hai nhà trước và sau dài hơn và bằng nhau. Khối kiến trúc có hình chữ Công biến thành chữ Tam (ba gạch ngang), mỗi nhà tám mái chênh nhau bởi lớp nhà giữa ngắn hơn, nên đứng một góc người ta có thể thấy ít nhất 16 mái cong kép. Tuy nhiên chùa Kim Liên nằm trên mặt đất bằng hiệu quả không gian chưa thật rõ rệt. Hai năm sau, năm 1794, người ta lại xây lại chùa Tây Phương, ở Thạch thất, Hà Tây hoàn toàn dựa trên kiểu thức chữ Tam của chùa Kim Liên. Nhưng chùa Tây Phương được đặt trên ngọn quả đồi, nên hiểu quả thị giác của 24 mái cong là tuyệt đẹp, đồng thời các đầu đao lại được hình thành đuôi phượng kép, nên thực chất chúng bao gồm 48 đường cong mái nở ra tứ phía rất ngoạn mục.

Chùa Kim Liên (Hà Nội), thế kỷ 18, xây dựng theo lối kiến trúc Trùng thiềm điệp ốc với hệ thống mái kép tạo nên vẻ bay bổng cho cả công trình.

Gác chuông chùa keo (Thái Bình) và tòa Tích thiện am chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) là hai kiến trúc ba tầng hiếm hoi trong kiến trúc cổ. Không phải kỹ thuật xây dựng xưa không thể làm được nhà cao tầng, nhưng để kiếm được những cây gỗ cao to không hề dễ dàng, và chiều cao của mỗi công trình còn phải hài hòa với tổng thể chung, mà phong cách kiến trúc truyền thống chủ yếu chọn các phương án thấp. Cửu trùng đài do kiến trúc sư Vũ Như Tô thiết kế cho vua Lê Tương Dực cuối thế kỷ 15, tất nhiên ngày nay chỉ còn là truyền thuyết, tương truyền soi bóng ra nửa hồ Tây. Tất nhiên phải hiểu đó là một tòa lầu gỗ cao như gác chuông chùa Keo và đặt trên nền cao bằng đá và gạch. Toàn bộ có thể cao đến 20 thước và theo chiều nghiêng của bóng nắng thì bóng cửu trùng đài soi ra mặt nước hồ Tây là bình thường. Song trừ các tháp thời Lý thì từ sau thế kỷ 12, thì nước ta không còn công trình nào cao trên 20 thước. Cung vua phủ chúa nghe nói là rất hoành tráng, nhưng hiện thì chỉ là lâu đài trong mộng, còn tất cả các công trình làng xã dù được vua chúa bảo trợ, nhưng với huy động tài vật của số dân vài trăm người một làng, đương nhiên đình chùa làng kích cơ như thế là đúng, không thể hiện lớn hơn những ngôi chùa Keo hau Bút Tháp. Quy mô của hai chùa này cũng gần tương đương với lăng Minh Mệnh và Tự Đức thời Nguyễn.

Gác chuông chùa Keo (Vũ Thư, Thái Bình) thế kỷ 17 và Tòa Tích thiện Am chùa Bút Tháp. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

(Hết phần 3)

Chương V – Mục 30 – Văn minh vật chất của người Việt / Tác giả: Phan Cẩm Thượng

Đánh giá

0 thích
Upvote Downvote

Total votes: 0

Upvotes: 0

Upvotes percentage: 0.000000%

Downvotes: 0

Downvotes percentage: 0.000000%

Loading Facebook Comments ...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Công nghệ kiến trúc của người Việt (Phần 3)

đăng nhập

Thông qua tài khoản Mạng xã hội

Chưa có tài khoản?
đăng ký

Khởi tạo mật khẩu

Quay về
đăng nhập

đăng ký

Điền thông tin và bấm nút "Đăng ký"

Captcha!
Quay về
đăng nhập

Xin chào!

hoặc

Đăng nhập

Quên mật khẩu?

Chưa có tài khoản? Đăng ký

Đóng
của

Đang xử lý file...