Công nghệ kiến trúc của người Việt (Phần 4)
Sân trong chùa Bút Tháp, dẫn khách hành hương đến các điện thờ trong cảnh vườn thiền tĩnh lặng.

Mặc dù có cửa chính diện nhưng ngôi chùa lại bố trí cho người ta ra vào rất nhiều hướng, cửa phụ và cửa ngách, vào nhà nọ sang nhà kia, ra vườn, đến khu tháp, đi đi lại lại… tất cả như ngẫu nhiên, tự nhiên nhưng góc nào cũng an bình và đẹp đẽ. Ngôi chùa là kết quả của cả một lối sống tinh tế thú vị, đạo đấy mà đời đấy, có tất cả mà không tất cả, rất nhiều thứ phong phú, nhưng cuối cùng cũng chả có gì. Hư vô và u tịch là cảm quan mà toàn bộ ngôi chùa đem lại. Ai có trình độ đến đâu thì giác ngộ tới đó. Quý tiện hiền ngu đến đây đều bình đẳng cả. Bước qua của ngách của chùa, theo hai dẫy hành lang lên Tiền đường, thắp hương và lễ Phật trước hương án, rồi lên Thượng điện, vòng qua sau nhà xuống hậu đường thắp hương cho đức Thánh Trần và ban thờ Thánh mẫu, các vị sư tổ. Vòng qua vườn chùa ngắm nhìn những tháp sư uy nghiêm và tĩnh lặng. Đến bên ao hồ ngắm hoa sen. Đấy là một ngôi chùa nhỏ và đơn giản nhất, mà một người dân có thể đến bất cứ lúc nào, ở bao nhiêu lâu tùy thích.

Lối đi bên hông chùa Nành, thông qua cửa ngách dẫ đến các dãy nhà bên và Hậu đường. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

Nhà sư trông chùa không bao giờ đuổi khách thập phương vì ông ta cũng chỉ là một nhưỡng khách trong trần thế, với ngôi nhà chùa cũng là một vị khách quý của dân làng. Song người dân Việt Nam xưa không dám lấy bất cứ thứ gì của Phật, nên người ta chỉ đến chùa vãng cảnh, hành lễ, chấp tác rồi lại về nhà mình. Nơi người ta dâng hiến, bố thí chứ không nhận gì, và nếu Phật ban lộc có thể thụ lộc không nên từ chối.

Sân trong chùa Bút Tháp, dẫn khách hành hương đến các điện thờ trong cảnh vườn thiền tĩnh lặng.

Giữa hai lớp nhà mái sát nhau, có thể làm một đường máng thoát nước mưa, hoặc đưa nước vào bể chứa. Nhưng như thế căn nhà sẽ tối. Ở chùa Tây Phương (Thạch Thất, Hà Tây), giữa hai lớp nhà có một khoảng cách lấy ánh sáng, như một hành lang nhỏ. Ở chùa Bổ (Việt Yên, Bắc Giang), giữa hai lớp nhà, nhà sau thường được chuyển cao hơn một cấp, và khoảng giữa xây một hoa viên nhỏ, một sắp đặt tinh tế nào đó. Thay đổi độ cao trong chùa kết hợp với thay đổi khoảng cách được nghiên cứu kỹ lưỡng, sao cho hợp lý với bước chân đi, những tập hợp điêu khắc, và giữa vườn- sân – nhà – tường – cửa. Về vấn đề này, đôi khi người ta tự hỏi không biết những người thợ kiến trúc Việt xưa học từ đâu, vì chúng chẳng giống gì với bố trí khoảng cách trong kiến trúc Trung Quốc, và người ta đã không thể làm tốt hơn khi tạo ra những không gian ngẫu nhiên một cách có chủ đích.

Chùa Tây Phương (Thạch Thất, Hà Nội), thế kỷ 18, kiến trúc Trùng thiềm điệp ốc tương tự như chùa Kim Liên. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

Nhìn chung không gian bên trong của kiến trúc tôn giáo Việt Nam chuộng bóng tối. Với những căn nhà đơn như nhà dân, mái thấp, hiên rộng, ánh sáng không chếu thẳng vào nhà, nhưng cửa sổ tường sau được mở, ánh sáng trong nhà có độ dịu vừa phải. Với khí hậu nóng ẩm, thì làm như vậy chống được nóng, và lâu đời người Việt không ưa sống ở những nơi quá sáng. Để chống ẩm, thì nhà gỗ, đất rất hiệu nghiệm, nền có thể đầm đất pha vôi hút ẩm cũng tốt, và sau này người ta chế ra loại gạch đỏ cũng có khả năng hút ẩm. Loại gạch vồ dường như là một bí quyết, rất dầy, không bị mốc trong mưa nắng, để hàng năm không suy suyển. Nhưng giá thành chắc rất đắt thường chỉ dành riêng cho công trình phong kiến và tôn giáo. Người dân thường dùng một loại gạch lá men, mỏng hơn, nung non một chút, cũng hút ẩm, nhưng độ bền không cao, và mòn vẹt đi trong quá trình sử dụng. Ở những công trình tôn giáo, khi các lớp nhà xây sát vào nhau, khu hậu cung và thượng điện thường rất tối, người ta bầy biện nhiều đồ thờ và tượng sơn son thếp vàng tạo ra ánh sáng phản quang mạnh, nên vào nơi đây dân thường có một thứ ánh sáng vàng son rất rực rỡ. Đồng thời bóng tối và không khí hơi ẩm có tác dụng bảo quản tốt đồ gỗ phủ sơn truyền thống.

Góc hành lang nối với Tiền đường và Gác chuông chùa Nành (Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội), thế kỷ 18 – 19, kiến trúc xây hoàn toàn bằng gạch mộc kết hợp với vì kèo gỗ và mái ngói. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

Phối hợp ngũ tài Kim Mộc Thủy Hỏa dường như là một yêu cầu trong kiến trúc truyền thống, tất nhiên, ngôi chùa đủ khả năng đáp ứng tốt việc này. Yếu tố kim loại không cần quá nhiều, và cũng không thể nhiều được khi sắt và đồng, ngay cả nhà nông và quân đội cũng cần. Trong chùa chỉ giới hạn ở vài quả chuông, cái khánh, hoặc bộ tam sự, ngũ sự bằng đồng (lư hương, cây nến, con hạc), mươi ngọn đèn, và thực ra ngay tượng Phật cũng giát khá nhiều vàng bạc. Quá nhiều kim loại thì không tốt cho sức khỏe, nên có vừa phải như vậy là đủ. Yếu tố mộc không phải nói cũng nhiều. Toàn bộ vì kèo, đồ tế tự, tượng Phật và nhiều đồ dùng khác đều bằng gỗ, nguyên liệu này người Việt không thiếu, chủ yếu là cho gỗ tốt, ngâm tẩm cho kỹ. Thậm chí cả tường nhà xưa cũng được làm bằng gỗ. Thủy là nước, trừ nước cúng lấy từ giữa dòng sông, hứng trên giời, còn ao hồ tự nhiên quanh chùa nhất thiết phải đóng vai trò phong thủy. Hỏa là lửa cũng dùng hạn chế như kim ở các ngọn đèn hương và nến, Thổ gồm đất đá gạch và nhiều đồ gốm cũng không ít trong một ngôi chùa. Năm yếu tố không vì triết học âm dương ngũ hành cũng vốn sẵn có trong xây dựng Việt, nhưng quan trọng là liều lượng thế nào cho cho phù hợp với sự an bình và sức khỏe của con người sống trong đó là cả một nghệ thuật. Vì thế khi ở trong chùa người ta thường thấy thanh thản, chóng lành bênh tật, nhìn đời một cách điềm tĩnh hơn.

Cầu đá bắc qua hồ sen nhỏ nối từ Đại điện sang tòa Tích Thiện am, một yếu tố tạo vườn cảnh kết hợp phong thủy trong nội kiến trúc chùa Bút Tháp. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

Vai trò của Phong Thủy đối với kiến trúc Phật giáo cũng quan trọng không kém. Tất nhiên trước khi Việt Nam ảnh hưởng Phật giáo Trung Hoa, thì mô hình kiến trúc Phật giáo có quan niệm khác về phong thủy. Mandala là một vũ trụ thu nhỏ, nó cần tập trung , dễ nhìn, dễ vào từ khắp các hướng, nó không cần tựa vào cái gì cả, vì bản thân nó là vũ trụ, do đó các tháp cổ tiền Phật giáo Trung Hoa không quan trọng ở núi án núi chầu, hướng quay của ngôi chùa, mà quan trọng ở đất cao, bằng và rộng để có thể bao quát bốn phương tám hướng. Đối với thiền viện cho các sư tăng tụ tập lại chọn nơi khắc nhiệt và khắc khổ trong hang núi cheo leo, khô cằn, nơi ít người dám sống và buộc nhà sư dấn thân, trao cuộc sống của mình cho sự dâng hiến. Quan niệm này không giống chút nào với kiến thức Phật giáo theo dòng Trung Hoa lấy học thuyết phong thủy làm cơ sở. Thực ra vài ngôi nhà chùa thời Lý Trần đã dùng phương án chiết chung, nghĩa là vẫn có chút ít mô hình Mandala, và có một chút phong thủy, chả hạn như chùa Dạm, chùa Phật Tích và chùa Phổ Minh. Yếu tố Mandala và yếu tố phong thủy hỗn hợp trong các công trình Phật giáo, cũng xuất hiện ở một vài ví dụ thời Hậu Lê, cũng có thể thoạt đầu nó được quy hoạch theo kiểu Mandala, sau đó lại được chồng lên bằng các kiến trúc phong thủy, chẳng hạn ở chùa Phật Tích. Cụm chùa Tứ Pháp Thuận Thành chẳng hạn, bốn chùa Mây (Dâu), Mưa (Đậu), Sấm (Tướng), Chớp (Dàn) gần như nằm trên đường thẳng và quay về hướng chính Tây, tức là hướng chùa mẹ Man Nương (Chùa Mãn Xá). Còn chùa mẹ thì quay mặt theo hướng nam. Trước mặt bốn chùa là sông Dâu, sau lưng và hai bên đều có nhiều gò đống che chắn. Hiện nay địa phương đã tương đối bằng phẳng, nhưng nhìn kỹ cả bốn chùa được đều được bao bọc kín đáo. Học thuyết phong thủy đã được biết đến nay từ thời thuộc Đường, nhất là với viên thái thú kiêm thầy địa lý cao tay Cao Biền, đã phân kim cắm huyệt nhiều địa vực Đại Việt, nhưng ứng dụng vào chùa chiền có lẽ phải chính thức sau thời Trần, khi khuynh hướng Phật giáo Trung Hoa đã rõ rệt.

Toàn cảnh chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh), nguồn gốc từ thời Trần, nằm trong hệ thống tín ngưỡng Tứ pháp cổ đồng bằng Bắc Bộ. Ảnh trích trong sách “Chùa Dâu và nghệ thuật Tứ Pháp”, NXB Mỹ thuật 2002.

(Hết phần 4)

Chương V – Mục 30 – Văn minh vật chất của người Việt / Tác giả: Phan Cẩm Thượng

Đánh giá

0 thích
Upvote Downvote

Total votes: 0

Upvotes: 0

Upvotes percentage: 0.000000%

Downvotes: 0

Downvotes percentage: 0.000000%

Loading Facebook Comments ...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Công nghệ kiến trúc của người Việt (Phần 4)

đăng nhập

Thông qua tài khoản Mạng xã hội

Chưa có tài khoản?
đăng ký

Khởi tạo mật khẩu

Quay về
đăng nhập

đăng ký

Điền thông tin và bấm nút "Đăng ký"

Quay về
đăng nhập

Xin chào!

hoặc

Đăng nhập

Quên mật khẩu?

Chưa có tài khoản? Đăng ký

Đóng
của

    Đang xử lý file...