Công nghệ kiến trúc của người Việt (Phần 5)
Đền Gióng (Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội), kiến trúc thế kỷ 17 - 18. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

Đền thờ là loại hình kiến trúc thứ ba ở làng xã sau chùa và đình, nhưng không có nghĩa vị thế của đền bé hơn. Có thể nói đền thờ thần thánh còn ra đời trước đình và chùa, song hầu hết các đền thờ luôn được sang sửa cho mới, nên những di tích tối cổ hầu như không nguyên vẹn. Có hiện tượng là chùa hóa các đền thờ, tức là do sùng tín Phật giáo người ta tôn trí thêm tượng Phật vào đền và biến ngôi đền đó thành chùa. Ở mức độ lớn hơn là sự hòa nhập giữa tín ngưỡng bản địa và Phật giáo, như tín ngưỡng Tứ Pháp chẳng hạn, mà bà Man Nương được gọi là Phật mẫu Man Nương, và các vị thần Mây Mưa Sấm Chớp khác đều được coi và tạc tượng theo hình tượng Phật.

Toà Tam quan ngoại đền Đinh Tiên Hoàng (Hoa Lư, Ninh Bình) và đường thần đạo, thế kỷ 17. Kiến trúc đền Đinh tương tự với Văn Miếu khi để trống nhiều không gian lớn của vườn cảnh ao sen, phân cách bằng tường thấp và cửa ao sen để ngỏ.

Những chùa phối hợp với đền theo phương án thờ cúng độc lập tương đối, người ta mở rộng khu thờ, tạo thành kiến trúc tiền Thánh hậu Phật (tức là trước thờ Thánh, sau thờ Phật), hoặc ngược lại tiền Phật hậu Thánh. Cũng có trường hợp chùa được kết hợp với đình, như chùa Dàn, trong hệ thống Tứ pháp Thuận Thành (Bắc Ninh), đình được xây dựng phía trước, rồi điện thờ Tứ pháp sau cung là thờ phật, cái này gọi là tiền đình hậu tự. Như vậy hiện tượng đền thờ Việt Nam khá phức tạp dẫn đến các hình thức kiến trúc cũng nhiều vẻ khác nhau.

Tiền đường chùa Nành (Gia Lâm, Hà Nội), nguyên thuỷ là đền thờ Pháp Vân (thần Mây) trong hệ tín ngưỡng Tứ Pháp có từ thời Lý, sau này kết hợp với đạo Phật trở thành kiến trúc tiền Phật hậu Thánh. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

Miếu thờ chính là dạng đền thờ đơn giản nhất, chỉ có một căn nhà nhỏ, thậm chí người không chui lọt. Miếu do vậy có thể xây ở bất cứ đâu, đầu làng, trên đỉnh ngọn cao, ngoài vườn. Khác với người Trung Hoa, trong suy nghĩ của người Việt, miếu luôn rất nhỏ bé, thuộc loại tiểu kiến trúc. Đền thờ (Từ) có hình thức lớn hơn, tối thiểu là ngôi đình nhà chữ đinh (kiểu nhà có hình cung, gọi là chuôi vồ), tiền điện làm nơi bái lễ, hậu cung đặt ngai thờ, bài vị, tượng thờ. Đó là loại đền thờ Thần Thánh thông thường, và Thần Thánh mang tính địa phương là chính. Nhưng ở khắp nơi đền thờ Mẫu được người Việt rất sùng kính, những đền mẫu lớn xây thành quần thể được gọi là phủ, như phủ Giầy (Nam Định) và Phủ Tây Hồ (Hà Nội). Thờ Mẫu bao giờ cũng kèm với tục đồng cốt, nên lịch sử nhiều thời kỳ người ta cầm đoán và giải thể tục đồng cốt một cách nghiêm khắc. Các ban thờ Mẫu bèn chạy lộc nên chấp nhận, kết quả là hầu hết các chùa làng và ngay chùa ở Thăng Long cũng có ban thờ Mẫu. Đền thờ đã xuất hiện dưới dạng một điện Mẫu nhỏ trong kiến trúc Phật giáo.

Đền Gióng (Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội), kiến trúc thế kỷ 17 – 18. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.
Cổng hậu Văn Miếu (Hà Nội), kiến trúc thế kỷ 18. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

Đền thờ Mẫu cũng đơn giản theo kiến trúc hình chữ Đinh. Ở hậu cung có tượng Tam tòa Thánh Mẫu và hai cô hầu. Lớp ngoài là tượng Tứ phủ công đồng, rồi đến lớp tượng Ngũ vị tôn quan, giữa từng lớp đều có bục lên đồng. Ngoài tiền đường một bên có ban thờ Trần triều, một bên là ban thờ sơn trang. Bố trí tượng và đồ thờ trong các đền thờ Mẫu vốn không phức tạp như điện thờ Phật giáo nên kiến trúc cũng thanh thản hơn, quan trọng là biểu dương sư uy nghi linh thiêng của Thánh Mẫu. Song các điên thờ Mẫu luôn trọng sự mầu mè, phô bầy sự giầu có và ban phát rộng rãi của các bà chúa, nên một số lượng lớn đồ hàng mã, đồ trang kim và những đồ thờ tự đủ loại dâng vào điện Mẫu, làm cho khí sắc ban thờ Mẫu luôn lộng lẫy.

Văn Miếu (hà Nội), kiến trúc và quy hoạch thế kỷ 17 – 18. Ảnh Pierre Dieulefils, Bưu ảnh Đông Dương đầu thế kỷ 20. Nguồn: NXB Thế Giới.

Trên thực tế có nhiều đền thờ có quy mô không kém những ngôi chùa, điển hình là Văn Miếu, Hà Nội và đền Đa Hòa ở Châu Giang (Hưng Yên) và đền Hai Bà Trưng ở Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Tây, đền Gióng ở Gia Lâm, Hà Nội. Kiến trúc đền thường không nhiều nhà ngang dẫy dọc như chùa chiền, nhưng sử dụng nhiều tường ngăn để chia lớp không gian tạo chiều sâu và cảm giác hư vô. Văn Miếu là một thành công điển hình về không gian lớp nhưng sử dụng rất ít nhà, có thời được dùng làm nhà Thái học, nhưng có thời chỉ là nơi thờ cúng Khổng Tử và các vị tiên hiền. Trung tâm của nó chủ yếu là Bái đường và chính diện, còn tất cả chỉ gồm nhưng lớp ngăn tường, vài lớp nhà bỏ ngỏ, và con đường hẹp xuyên tâm gây cảm giác càng đi vào trong càng mở rộng mãi. Việc sửa chữa con đường này rộng ra và xây to Khu Khải Thánh phía sau làm giảm đi đáng kể cảm giác hư vô thanh tĩnh của Văn Miếu. Đền Đa Hòa thờ Chử Đồng Tử và Tiên Dung cũng vậy, gồm nhiều cổng trụ, tường ngăn, sâu rộng, đường sâu, nhà bia rỗng, rồi mới vào điện thờ cùng gây một cảm giác rất sâu xa, hư tĩnh, không có thực thể. Cách thức này được mọi loại hình kiến trúc cổ sử dụng, tức là tạo các không gian bỏ ngỏ, không nhằm mục đích gì rõ rệt, tạo một không gian và không khí linh thiêng nhưng không xác địch mục đích gì.

Đình tạ giữa đầm sen ở chùa Hoàng Long (thị trấn Quốc Oai, Hà Nội), kiến trúc thế kỷ 18. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

Những ngôi nhà bỏ ngỏ xuất hiện trong mọi kiến trúc tôn giáo Việt Nam. Tòa tiền tế và hai tòa giải vũ ở đình, tòa phương đình trong chùa và vườn hoa, dịch quán ven đường, và tam quan của mọi kiến trúc… Chúng được xây rất đẹp, tỷ lệ thanh nhã hợp với khổ người thấp của người phương Đông, trong nội thất thường không có gì, thậm chí không xây tường bao. Tất cả chỉ để nhằm tạo ra cảm thức hư vô, trống rỗng, rằng cái thế giới này sinh ra từ không, rồi tất cả trở lại về không. Trong các kiến trúc đó người ta thường treo hai chữ Không Không, nghĩa là Thế giới vô cùng, vạn vật giai không.

Miếu ngoài cánh đồng làng Mông Phụ (Sơn Tây, Hà Nội), một kiến trúc bỏ ngỏ phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ.

Nếu như trong chùa tượng Phật chiếm phần lớn không gian, thì trong đền phổ biến là lối thờ vọng, dù đền cũng có thể có tượng, nhưng không nhiều. Thờ vọng tức là thờ cúng nhưng không có hình ảnh, thần tượng. Các vị Thần thiêng liêng đến mức mọi hình ảnh đều là chân thực và đẹp đẽ bằng ngài, do đó giấu hình ảnh của ngài đi tốt hơn là phô bầy ra. Quan niệm này phổ biến trong dân gian, người ta cho rằng thành Thần rồi tức là vô biên vô tận không giới hạn trong một hình thức. Khi sống người ta kiêng gọi tên thật của mình, mà gọi bằng tên tục, như thằng Còi, thằng Tý… khi lập gia đình người ta thường lấy tên con để gọi bố. Ví dụ con tên là Nam, thì gọi là ông Nam, hay ông bòi Nam (con trai đầu lòng), nếu tên con gái đầu lòng là Chức, sẽ gọi là ông đĩ Chức, bà đĩ Chức. Khi chết người ta sẽ đặt tên thụy hiệu, và tên chính phải viết húy. Ví dụ bạn tên Nguyễn Văn Bẩy, hiệu là Từ Chương, sẽ được viết là Nguyễn Văn Quý Công, húy Bẩy, hiệu là Từ Chương. Ví dụ khác bạn là đàn bà, tên Nguyễn Thị Nữ, hiệu Diệu Tuệ, sẽ được viết là Bà Nguyễn Thị, húy Nữ, hiệu Diệu Tuệ. Cách thức này từ đó nhân lên trong các đền thờ Thánh Thần và văn tế việc kỵ húy được tôn trọng triệt để, và hậu cung của ngài, trừ ông thủ từ và ngày mộc dục tắm tưới lau dọn người giúp việc mới được vào. Thờ vọng từ đó ra đời, hình thức của nó, chỉ là hương án, bài vị,ngai thờ, sập thờ và vô ảnh tượng, bên ngoài được chắn bởi cửa bức bàn không đóng mà cũng không mở.

Ảnh trái: Khám thờ đình Chu Quyến (Ba Vì, Hà Nội), thế kỷ 17, nơi chứa bài vị thần thành hoàng.
Ảnh phải: Khám thờ đình Tây Đằng (Ba Vì), thế kỷ 16. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

(Hết phần 5)

Chương V – Mục 30 – Văn minh vật chất của người Việt / Tác giả: Phan Cẩm Thượng

Đánh giá

1 thích
Upvote Downvote

Total votes: 1

Upvotes: 1

Upvotes percentage: 100.000000%

Downvotes: 0

Downvotes percentage: 0.000000%

Loading Facebook Comments ...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Công nghệ kiến trúc của người Việt (Phần 5)

đăng nhập

Thông qua tài khoản Mạng xã hội

Chưa có tài khoản?
đăng ký

Khởi tạo mật khẩu

Quay về
đăng nhập

đăng ký

Điền thông tin và bấm nút "Đăng ký"

Quay về
đăng nhập

Xin chào!

hoặc

Đăng nhập

Quên mật khẩu?

Chưa có tài khoản? Đăng ký

Đóng
của

    Đang xử lý file...