Công nghệ kiến trúc của người Việt (Phần cuối)
Một ngôi nhà của người Mông ở xã Cán Cấu (Bắc Hà, Sapa) trong quá trình xây dựng, đầu tiên dựng kết cấu vì kèo gỗ hoặc tre, sau đó tường được đắp dần lên bằng cách trình đất. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn

Vì kèo là xương sống của kiến trúc tôn giáo đồng bằng kể từ thời Hậu Lê. Những bộ vì kèo sớm nhất được tìm thấy trong thời Trần (1226-1400), nhưng trong kiến trúc cổ phương Đông, vì kèo xuất hiện ít khoảng ba ngàn năm qua. Nhưng do gỗ không tồn tại quá lâu trong khí hậu nóng ẩm, nên người ta không thấy được di tích vì kèo nào trước thời Trần. Khởi thủy của vì kèo gỗ là các vì kèo có dạng khung tam giác. Có thể nói mọi nông dân xưa đều biết làm nhà vì kèo tre, tối thiểu với con dao và cái đục, và tất cả những loại vì kèo tre đều là tiền đề cho vì kèo gỗ. Mặc dù học người Trung Hoa khá nhiều điều về kiến trúc, nhưng người Việt lại không có học lối vì kèo đấu củng của Trung Hoa. Căn nhà người Việt vì thế khó nâng cao hơn, và trông nặng nề hơn so với kiến trúc Trung Hoa.

Lợp mái bằng rơm rạ hay cỏ gianh, bộ khung vì kèo không cần quá không cần quá khỏe. Nhưng vào mùa bão, những vì kèo tre và mái là khó mà trụ nổi, người ta phải chèn nhiều đòn tre lên bộ mái, hoặc căng dây bốn góc nhà gim chặt xuống đất. Vì kèo gỗ có thể chịu được một bộ mái dầy lợp bằng ngói và gần như không bị gió bão lật tung. Ba loại vì kèo phổ biến nhất được dùng trong các kiến trúc tôn giáo đồng bằng Bắc Bộ là vì kèo chồng rường, vì kèo giá chiêng và loại vì kèo giá chiêng kết hợp chồng rường – có thể viết chồng giường. Vì kèo sử dụng đấu củng Trung Quốc cũng được kiến trúc Huế học tập và biến thành kèo giả thủ (những tay giả đỡ đòn mái).

Kết cấu vì kèo giả thù trong kiến trúc Huế. Bản vẽ trích trong sách “L’art à Húe” cả Léopold Cadière

Vì kèo chồng rường bao gồm liên tiếp những thanh rường đặt trên hai cái cột cái và nối với hai cột quân. Toàn bộ khung vì kèo gần như không có khoảng hở, tất cả đều tham gia chịu lực, nên vì kèo này có vẻ nặng nề, nhưng chịu lực rất khỏe. Vì kèo giá chiêng hình thành như một khung để giá chiêng với khoảng rỗng lớn ở giữa, làm cho cảm giác thanh nhẹ hơn, nhưng chịu lực cũng yếu hơn, do đó người ta thường lắp vào khoảng trống một tấm ván có chạm khắc trang trí uốn lượn với những đường cong, nên chỗ này còn được gọi là bụng lợn.

Chạm khắc trang trí trên bề mặt vì kèo đình An Cố (Tiền Hải, Thái Bình), kiến trúc thế kỷ 17-18. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

Nếu như vì kèo chồng rường hợp với các nhà thấp, cột lớn, thì vì kèo giá chiêng hợp với những bộ mái nhẹ, nhà cao, cột thanh mảnh hơn, Mỗi loại vì kèo đáp ứng một lối kiến trúc nhất định. Tuy nhiên phần lớn bộ mái kiến trúc tôn giáo đình đền chùa đều nặng nên người ta tìm cách phối hợp giữa hai loại vì trên, phía trên kết cấu kiểu chồng rường, phía dưới kết cấu kiểu giá chiêng, nên có thể giải phóng bớt sự chịu lực và cảm giác sự nặng nề của vì kèo.

Hệ thống vì kèo kiểu thức giá chiêng ở đình Cổ Loa làm cho không gian bên trong rất cao và thoáng. Dưới được thiết kế sàn gỗ, hai bên bao bọc bởi hàng cửa bức bàn dễ dàng biến đình thành không gian ngỏ bốn mặt vào ngày lễ hội làng.

Dù vì kèo làm nhiệm vụ chính là chịu lực đè của bộ mái, nhưng người xưa luôn có xu hướng biến vì kèo thành một tổng thể trang trí ngôi nhà. Từ những vì kèo chính được nối theo hàng dọc bởi các kẻ chuyền và nối theo chiều ngang bởi các dầm ngang (hoành), tạo ra những khoảng rỗng trên toàn bộ khung vì kèo một ngôi nhà. Những khoảng này người ta bịt bằng ván chạm khắc trang trí dầy đặc nối liền từ hai phía đi vào khu vực giữa có cửa võng rực rỡ. Những khoảng rỗng tam giác trên vì kèo gọi là cốn cũng được chạm khắc dầy đặc, cũng như là các ván chịu lực. Trên gần đầu cột nhiều đầu dư không chịu lực được chạm con rồng bay xuyên qua gây cảm giác bay bổng trên những chiếc cột nặng nề. Không chỉ kiến trúc tôn giáo, ngay ở người dân, trang trí vì kèo cũng không thể thiếu. Cái đẹp mỹ mãn mọi nơi và trang trí bằng hoa văn không thật thỏa mãn, người ta tiến hành trang trí bằng các hoạt cảnh phù điêu. Nghệ thuật phù điêu đạt thành tựu rực rỡ trong điêu khắc đình làng thế kỷ 16, 17, 18, nó là một triết lý khác, một sức sống chưa từng có trong nghệ thuật tôn giáo trước và sau nó, và là kết quả của văn minh làng xã cũng rực rỡ trong ba thế kỷ trên.

Mái hiên đình Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh). Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn

Để mở rộng hàng hiên, người ta thêm vào vì kèo một hàng cột, gọi là cột hiên, và một cái kẻ dài nối từ đầu nóc xuống đầu cột hiên, gọi là kẻ chuyền. Trong trường hợp, không dùng kẻ chuyền dài như vậy, sẽ nối thêm một đoạn để mở cột hiên, thì đoạn nối đó gọi là cái bẩy. Nhà có thể có hiên trước và hiên sau, có thể đằng trước là kẻ thuyền, đằng sau là bẩy, thì gọi là tiền kẻ hậu bẩy, ngược lại thì gọi là tiền bẩy hậu kẻ. Hàng hiên rộng sẽ làm cho ngôi nhà có chỗ thư giãn, mái trùm xuống thấp hơn và ánh nắng cũng không thể chiếu thẳng vào nhà được.

Bẩy hiên đình Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội)

Vì kèo không hoàn toàn là đặc sản kiến trúc phương Đông, mọi nền kiến trúc hoang sơ và cổ đại đều biết đến nó theo những dạng khác nhau. Đơn giản nhất là kiến trúc gỗ và kiến trúc đá trong các đền thờ và các phòng họp công cộng. Lối đặt một cột trung tâm, rồi gác các đòn thành vòng tròn nối ra các cột rìa như lều của người du mục, thực ra cũng là một loại vì kèo. Làm bốn cột và gác lên các dầm ngang cũng là vì kèo thô sơ. Dạng này có nhiều trong kiến trúc đá cổ đại, cho đến khi con người phát hiện ra bê tong thì vì kèo không đóng vai trò lớn nữa. Người Trung Hoa và Nhật Bản đã nâng vì kèo lên mức nghệ thuật. Họ có thể làm nhiều loại kiến trúc khác nhau, không chỉ mặt bằng chữ nhật và vuông như Việt Nam, mà có thể bát giác hoặc tròn và cao tầng, những vòm giếng mái bay bổng, mà các thành phần gỗ thanh thoát giấu đi tính chịu lực của nó.

Ảnh từ trên xuống dưới: Vì kèo đình Tây Đằng kiểu thức chồng rường, vì kèo đình Cổ Loa theo kiểu thức giá chiêng, vì kèo đình An Cố theo kiểu thức kết hợp giữa chồng rường – giá chiêng. Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn.

Kiến trúc gỗ Việt Nam không phát triển theo hướng này, người Việt ưa vẻ thô mộc, ưa sự tự nhiên và cảm giác tự nhiên từ đời sống của cây gỗ, do đó thô mộc và chịu lực chính là vẻ đẹp của gỗ cần khai thác, chứ không lạ hóa nó theo chiều hướng nào. Ba loại vì kèo Việt Nam kể trên, kết cấu cũng khéo léo và hợp lý về trọng lực và phân chia lực để biến đổi không gian bên trong ngôi nhà và bộ mái, nhưng cơ bản nó vẫn được phô bày kết cấu tự nó như một thứ cấu trúc chủ nghĩa phong kiến. Tư tưởng cấu trúc phát triển rất mạnh mẽ trong mọi khoa chế tác đồ dùng Việt cổ, nó phô bày vẻ đẹp tự thân của đồ vật không cần trang trí, mọi ngóc ngách của chi tiết đồ vật, sự tự thân của vật liệu và sự lắp ghép theo chiều hướng hiện thị công năng.

-HẾT-

Chương V – Mục 30 – Văn minh vật chất của người Việt / Tác giả: Phan Cẩm Thượng

Loading Facebook Comments ...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Công nghệ kiến trúc của người Việt (Phần cuối)

đăng nhập

Thông qua tài khoản Mạng xã hội

Chưa có tài khoản?
đăng ký

Khởi tạo mật khẩu

Quay về
đăng nhập

đăng ký

Điền thông tin và bấm nút "Đăng ký"

Captcha!
Quay về
đăng nhập

Xin chào!

hoặc

Đăng nhập

Quên mật khẩu?

Chưa có tài khoản? Đăng ký

Đóng
của

Đang xử lý file...