Đình Làng của người Việt

Trai gái đùa vui (đình Hưng Lộc – Nam Định)

Tác phẩm thể hiện 4 nhân vật với 4 trạng thái tình cảm khác nhau, 2 người nam, người cười thoải mái, người thì cười tủm tỉm. 2 cô gái ưu tư sâu lắng. Tất cả được bố cục thành nhóm có nhân vật chính phụ, có bối cảnh tạo vẻ sinh động cho tác phẩm. Đường nét thoải mái, phóng khoáng. Khối hình đơn giản không cốt giống thực mà sống động, tươi mát, hồn nhiên.

Về kỹ thuật tạo hình

Các nhân vật được thể hiện theo quan niệm tạo hình dân gian giàu chất tượng trưng và ước lệ. Không cần giống thực, không quan tâm đến tỷ lệ cơ thể cân đối, miễn sao truyền được cái “thần” của nhân vật. Tuy nhiên toàn bộ tác phẩm lại là sự hài hoà cân đối hợp lý về mặt bố cục, hình khối, đường nét..

Hình tượng các nhân vật: lạc quan yêu đời. Ngay cả những đề tài mang tính chất chính thống như những con vật linh thiêng trong tứ linh như rồng phượng cũng trở nên bình thường, gần gũi như tác phẩm “Cô gái cưỡi Phượng” ở đình Thổ Hà (Bắc Giang), “Múa trên lưng rồng” ở đình Liên Hiệp (Hà Tây), “phụ nữ vén váy trên đầu rồng” ở đình Phù Lão (Bắc Giang).

Những nghệ nhân muốn vượt lên những khắc khe phong kiến của xã hội đương thời, để vươn tới những tình cảm tự nhiên của con người như tình yêu trai gái, quan hệ tình cảm, khát vọng yêu thương

Về ý nghĩa

Đình làng là bảo tàng lớn lưu giữ các tác phẩm điêu khắc quý giá, phản ánh cuộc sống hiện thực xã hội đương thời. Các tác phẩm cũng bộc lộ tất cả những gì người nông dân yêu thích, mong ước, trông chờ làm nguồn tài liệu cho nhiều nghành khoa học, nghệ thuật nghiên cứu sau này.

Ngôi đình gắn bó hữu cơ với con người, với cuộc sống làng xã. Khi xa quê hương, hình ảnh đầu tiên hiện trong tâm trưởng người việt chính là cây đa, bến nước, sân đình

Nguồn: Lịch Sử Mỹ Thuật Việt Nam của Phạm thị Chỉnh

bởi
1 thích
Upvote Downvote

Total votes: 3

Upvotes: 2

Upvotes percentage: 66.666667%

Downvotes: 1

Downvotes percentage: 33.333333%

BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA ĐÌNH LÀNG

Nếu nói Đình Làng được sinh ra trong thời kỳ xã hội rối ren cũng không sai, Việt nam trong giai đoạn TK 16, 17 là những cuộc nội chiến liên miên của những tập đoàn phong kiến lớn: nhà Trịnh và nhà Mạc ở miền bắc, nhà Trịnh và chúa Nguyễn ở phía nam.

Việt nam cũng có vua, nhưng vua Lê lúc này chỉ là hình thức, mọi quyền hành tập trung vào tay chúa Trịnh (Qua các đời Trịnh KIểm – Trịnh Tùng – Trịng tráng) dù lấy danh nghĩa là phục hồi triều Lê chống lại nhà Mạc (thời kỳ Lê Trung Hưng), nhưng thời kỳ nhà Lê lúc này chỉ còn trên danh nghĩa. Vua mất đi quyền hành tuyệt đối của một thiên tử, hệ tư tưởng Nho giáo khủng hoảng, không còn là công cụ của triều đình để trị nước an dân.

bởi
0 thích
Upvote Downvote

Total votes: 0

Upvotes: 0

Upvotes percentage: 0.000000%

Downvotes: 0

Downvotes percentage: 0.000000%

Triều đình suy yếu tạo điều kiện cho làng xã tách khỏi sự quản lý của nhà nước, nhiều nho sĩ bất mãn với triều đình và các thế lực lộng quyền, đã quay về với quê hương, lấy sinh hoạt, lễ hội địa phương làm chỗ dựa tinh thần. Tín ngưỡng thờ phượng tổ tiên, gia đình, dòng họ, giống nòi.. trở thành đạo đức sống cho mọi tầng lớp.

Đáp ứng nhu cầu tinh thần trong thời loạn lạc, Đình làng trở thành nơi sinh hoạt chung cho cả cộng đồng. là nơi là nơi thờ Thành hoàng, những người có công với làng xã, anh hùng dân tộc. Đình làng cũng là nơi tổ chức các lễ hội, các cuộc thi, và thậm chí.. trai gái trong làng gặp nhau cũng thường hay đến Đình Làng hò hẹn. Ngôi đình gắn bó hữu cơ với con người, khi tha hương, hình ảnh đầu tiên hiện trong tâm trưởng chính là cây đa, bến nước, sân đình

Thật đáng tiếc khi việt nam còn đang phải ngụp lặn liên miên trong những cuộc nội chiến, thì Châu Âu đang trong thời kỳ rực rỡ nhất của lịch sử Mỹ Thuật: Thời kỳ Phục Hưng

bởi
0 thích
Upvote Downvote

Total votes: 0

Upvotes: 0

Upvotes percentage: 0.000000%

Downvotes: 0

Downvotes percentage: 0.000000%

KIẾN TRÚC ĐÌNH LÀNG

Ngôi đình thường được xây dựng ở trung tâm làng hoặc ở đầu làng, nơi có khu nền đất cao ráo. Đình được cất từ gỗ, lợp ngói, có sàn gỗ cao 0,7m.

Đình có không gian mở, gắn với không gian cảnh quan bên ngoài. Nếu có vách thì vách cũng có thể mở rộng bằng cách cuộn hay lắp ghép dễ dàng.

Đa số đình làng ở đầu TK 16 có kiến trúc hình chữ nhất (一), chỉ với một nếp nhà ngang, bên trong chia thành nhiều gian (số gian luôn luôn là số lẻ theo truyền thống dựng nhà của người Việt). Gian giữa là nơi thờ Thành Hoàng, cũng là trung tâm cân đối bố cục cho các gian bên. Bàn thờ được đẩy cao và lùi về hàng cột phía trong. Như đình Tây Đằng (TK16, Hà Tây), Chu Quyến (Hà Tây)

Về sau do nhu cầu phát triển mở rộng, kiến trúc Đình làng quy mô hơn với nhiều kiểu

Hình chữ Đinh (丁): Đình làng xây thêm phần hậu cung để tách riêng nơi thời thần Hoàng Làng như đình Lỗ Hạnh (Bắc Giang), đình Bảng (Bắc Ninh)

Hình chữ Nhị (二): đình Phù Lão ở Bắc Giang

Hình chữ Công (工): đình Thổ Hà ở Bắc Giang

Hình chữ khẩu (口): đình Võ Liệt ở Nghệ An

Cho dù có phát triển thế nào thì phần quan trọng nhất trong toàn bộ kiến trúc vẫn là toà Đại Đình có phần mái xoè rộng và chiếm 2/3 chiều cao của đình. Mái đình rộng tạo nên một không gian cách nhiệt tốt phù hợp với khí hậu việt nam. Dù phần mái chiếm diện tích khá lớn, nhưng trông vẫn nhẹ nhàng thanh thoát là nhờ các đầu đao uốn cong, cuộn lên thành dải hoa văn.Trên bờ nóc được trang trí bằng các hình tượng nghệ thuật: hình mây lửa chầu về mặt trời ở giữa bờ nóc.

Phần xây thêm phía trước Tòa đại đình có thể có nhà tiền tế, phương đình, các gian bên là tả hưu – hữu hưu, có hồ ao soi bóng, cây đa bến đình

Kiến trúc bằng gỗ lớn với các vì kèo có 6 hàng chân cột. Các xà ngang, xà dọc, đầu bẩy, cột cái, cột quân.. đều được ăn khớp với nhau bằng mộng, tháo ráp dễ dàng. Các chân cột đều được kê lên đá để dễ di chuyển khi có lụt lội

ĐIÊU KHẮC ĐÌNH LÀNG

Đây là phần độc đáo nhất của nghệ thuật Đình Làng. Có rất nhiều các tác phẩm chạm khắc trên các vì kèo, nhưng tuyệt nhiên chúng ta không gặp các khắc chạm rồng phụng thường thấy trong cung đình, mà cũng chẵng có vết tích tôn giáo, tín ngưỡng nào ở đây.. hầu hết chủ đề các tác phẩm được sáng tác thoải mái tự do theo cảm hứng của nghệ nhân dân dã

bởi
0 thích
Upvote Downvote

Total votes: 0

Upvotes: 0

Upvotes percentage: 0.000000%

Downvotes: 0

Downvotes percentage: 0.000000%

Đình Thụy Phiêu

Đình Thụy Phiêu tọa lạc trên gò đồi đá ong thuộc xã Thụy An, Ba Vì, Hà Nội. Năm 2001, đình được công nhận là Di tích văn hóa cấp quốc gia.

Ngôi đình này được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ 16, có niên đại trước đình Tây Đằng. Đến nay, đình Thụy Phiêu được coi là đình cổ nhất Việt Nam, với gần 500 năm tuổi, có kiến trúc chi tiết độc đáo. Tuy số lượng cột trong đình không nhiều, như­ng phần lớn là cột to. Cột cái lớn nhất có đường kính 80cm, làm bằng gỗ thông đỏ, loại gỗ quý của rừng Thụy An.

bởi
0 thích
Upvote Downvote

Total votes: 0

Upvotes: 0

Upvotes percentage: 0.000000%

Downvotes: 0

Downvotes percentage: 0.000000%

Các cột còn lại là lõi gỗ mít. Trên cột đình đều đ­ược khắc chữ Nho. Các xà, đầu, kèo, cuốn đều có chạm khắc chi tiết mang đậm nét văn hóa dân gian. Đầu đao dài, uốn cong và có gắn long, ly, quy, ph­ượng.

bởi
0 thích
Upvote Downvote

Total votes: 0

Upvotes: 0

Upvotes percentage: 0.000000%

Downvotes: 0

Downvotes percentage: 0.000000%

Đình Thổ Tang

Đình Thổ Tang thuộc xã Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, được tạo dựng từ thế kỷ XVII

Đình Thổ Tang kiến trúc kiểu chữ “Đinh”, cửa hướng Tây Nam, gồm hai tòa Đại Đình và Hậu cung. Đình dài 25,8m, rộng 14,2m, nền được bó vỉa bằng đá xanh, kết cấu kiến trúc kiểu tứ trụ, chồng rường giá chiêng, gia cố bền chắc. Đại đình gồm năm gian, hai dĩ với 60 chiếc cột to làm bằng gỗ tốt, từ nền đình tới nóc cao 7m. Cột cái có đường kính 0,8m, cao 5m, cột con có đường kính 0,61m.

bởi
0 thích
Upvote Downvote

Total votes: 0

Upvotes: 0

Upvotes percentage: 0.000000%

Downvotes: 0

Downvotes percentage: 0.000000%

Tác phẩm “Uống rượu” ở đình Ngọc Canh (Vĩnh Phúc)

Thể hiện một cuộc rượu với một tinh thần nho nhã. Đường nét mềm mại, hình khối nhẹ nhàng. Toàn bộ tác phẩm được bố cục chặc chẽ trong hình chữ nhật, 2 bên chạm 2 hình giống như bông sen càng gợi lên một tinh thần nhẹ nhàng thanh tao nho nhã. Kỹ thuật chạm nỗi và chạm thủng làm nổi rõ chân dung của 2 nhân vật. Phần đầu khá to so với thân, nhưng lại cân đối hài hoà trong toàn bộ tác phẩm, làm trọng tâm hút ánh mắt người xem.

bởi
0 thích
Upvote Downvote

Total votes: 0

Upvotes: 0

Upvotes percentage: 0.000000%

Downvotes: 0

Downvotes percentage: 0.000000%

Tác phẩm “Chuốc rượu” ở đình Hoàng Xá (Hà Tây)

Cũng là 2 nhân vật uống rượu, nhưng sự say sưa được diễn tả rõ trên 2 nét mặt, hai thân mình nghiêng ngả. Ở người mời rượu, đầu và tay tạo thành một đường thẳng với nét chạm sắc sảo, dứt khoát, người kia, với bàn tay cong gập về phía sau, cũng từ chối một cách quyết liệt không kém. Hai người, người mời, người từ chối trong tình trạng đã say

bởi
0 thích
Upvote Downvote

Total votes: 0

Upvotes: 0

Upvotes percentage: 0.000000%

Downvotes: 0

Downvotes percentage: 0.000000%

Từ khoảng giữa thế kỷ 16 đến thế kỷ 18, ở việt nam, đặc biệt là ở miền bắc, xuất hiện một loại hình nghệ thuật độc đáo đậm nét dân tộc: đó là Đình Làng. Mỗi làng hầu như đều có một cái Đình, là nơi tổ chức hội hè, sinh hoạt chung cả cộng đồng, và đó cũng là nơi gắn kết người dân trong làng xã. Người cùng làng rất thương nhau, sẵn sàng hỗ trợ nhau trong những giai đoạn khó khăn nhất.

Thực ra đình Làng xuất hiện từ rất sớm, theo sử sách thì đình làng có từ thời nhà Đinh, nhưng lúc bấy giờ Đình làng chỉ là đình trạm, là nơi dừng chân, qua đêm của vua quan trong những chuyến di hành, kinh lý. Trải qua các thời vua Lê, Lý, Trần.. cho đến thời Lê Trung Hưng thì vai trò đình làng thay đổi.

bởi
-1 thích
Upvote Downvote

Total votes: 1

Upvotes: 0

Upvotes percentage: 0.000000%

Downvotes: 1

Downvotes percentage: 100.000000%

Tác phẩm “Đánh cờ” ở đình Ngọc Canh (Vĩnh Phúc)

Bức chạm này có lối tạo hình đặc biệt, bàn cờ hình vuông. 4 người ngồi ở 4 góc và đều quay mặt ra ngoài. Hình trong tác phẩm không che khuất nhau. Người gần thì nhỏ, người xa thì lớn, thể hiện quan niệm tạo hình rõ ràng, thuận mắt mà không theo quy luật của mắt nhìn. Tác giả đã khéo tạo ra sự thay đổi giữa mảng nổi, mảng chìm giữa hình và nền, giữa đặc và trống một cách hợp lý tạo nên một bố cục thoáng mát nhưng rất chặc chẽ, rõ ràng, đơn giản nhưng không sơ sài, nghèo nàn.

bởi
-1 thích
Upvote Downvote

Total votes: 1

Upvotes: 0

Upvotes percentage: 0.000000%

Downvotes: 1

Downvotes percentage: 100.000000%

Đình Chu Quyến (còn gọi là đình Chàng)

Đặc điểm: Kiến trúc hình chữ Nhất, Đình được xây dựng vào cuối thế kỷ XVII, là ngôi đình tiêu biểu cho kiến trúc gỗ dân gian truyền thống của Việt Nam.

Toạ lạc: xã Chu Minh, huyện Ba Vì, Hà Nội

Đình Chu Quyến thờ Nhã Lang, con cả của Lý Phật Tử (thế kỉ VI) và bà thứ phi Lã Thị Ngọc Thanh, người làng Chu Quyến.

Kết cấu nóc 4 mái dốc, 2 chính, 2 phụ. Đình được làm bằng gỗ lim,có 3 gian 2 chái. Chiều dài 30 m, tổng diện tích 395 m2,

Kết cấu khung gồ chồng tường truyền thống. 8 hàng cột dọc, 6 hàng cột ngang (2 cột cái, 2 cột quân, 2 cột hiên).

Đình có sàn gỗ, có vách cao bằng mặt sàn. Lan can gỗ được dựng bằng các khung chữ nhật đứng.

bởi
-1 thích
Upvote Downvote

Total votes: 1

Upvotes: 0

Upvotes percentage: 0.000000%

Downvotes: 1

Downvotes percentage: 100.000000%

Đánh giá

0 thích
Upvote Downvote

Total votes: 0

Upvotes: 0

Upvotes percentage: 0.000000%

Downvotes: 0

Downvotes percentage: 0.000000%

Thêm nội dung

Hình ảnh Mã nhúng (Phim / Ảnh)

Trường bắt buộc

Kéo và thả file ảnh vào đây

hoặc

Hủy

Kích thước tập tin tải lên tối đa: 2 MB

Đang xử lý...

Trường bắt buộc

Ví dụ: https://www.youtube.com/watch?v=ACgptpA-fJw

Đang xử lý...

Nếu bạn có công trình, bài viết hoặc tài liệu muốn chia sẻ. Viết bài ngay!

Loading Facebook Comments ...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Đình Làng của người Việt

đăng nhập

Thông qua tài khoản Mạng xã hội

Chưa có tài khoản?
đăng ký

Khởi tạo mật khẩu

Quay về
đăng nhập

đăng ký

Điền thông tin và bấm nút "Đăng ký"

Quay về
đăng nhập

Xin chào!

hoặc

Đăng nhập

Quên mật khẩu?

Chưa có tài khoản? Đăng ký

Đóng
của

    Đang xử lý file...