Phần 2: Thế giới của RCR
Tác giả : josep maria montaner – tạp chí El Croquis 162

Sau gần 25 năm thành lập, sản phẩm của văn phòng RCR (Rafael Aranda, Carme Pigem và Ramon Vilalta) có thể được đánh giá rõ ràng. Bước ngoặt của văn phòng bắt nguồn từ hai điểm mốc quan trọng: các dự án ở Dubai năm 2017, mặc dù không được xây dựng, nhưng là cuộc thử nghiệm tuyệt vời cho các kiểu mẫu (typologies), mối quan hệ (relationships), sự biến đổi (gradients) và các không gian; và năm 2008, chiến thắng trong cuộc thi thiết kế bảo tàng Soulages tại Rodez.

Toàn cảnh Olot

Văn phòng RCR đặt tại Olot, một nơi cách xa sự ồn ào, vội vã và căng thẳng của các thành phố lớn. Một mặt, họ kiên nhẫn tìm tòi, khám phá mối quan hệ giữa địa điểm, nơi chốn với cảnh quan, vật liệu. Cùng với đó, họ tiếp tục hiện thực hóa các ý tưởng với những người thợ thủ công và các nhà máy sản xuất công nghiệp. Khả năng làm việc với những vấn đề của cảnh quan, nơi chốn chính là khía cạnh đã biến RCR trở thành những tác giả tầm quốc tế. Mối quan hệ chặt chẽ của họ với nơi chốn làm cho các dự án được thấu hiểu và đã mang lại những cảm xúc trong nhiều bối cảnh khác nhau.

Xưởng đúc kim loại Barberi – Văn phòng kiến trúc của RCR

Trước khi được cải tạo thành văn phòng, nơi đây từng là một xưởng đúc kim loại. Được mua lại năm 2004, lên ý tưởng năm 2005 và bắt tay thực hiện năm 2008. Nhà xưởng này đã được biến đổi thành không gian thử nghiệm của văn phòng RCR, với các không gian cho sự tập trung tinh thần, thư giãn, gặp gỡ khách hàng, đối tác và khách thăm quan; không gian cho mô hình, không gian cho thảo luận, xưởng thiết kế; và lưu trữ . RCR đã chọn đặc trưng của mỗi không gian công nghiệp ở đây cho từng hoạt động của văn phòng theo hơn 20 năm kinh nghiệm hoạt động . Phòng làm việc là một khối lập phương, vẫn lưu giữ những bức tường đá cũ ,một phía nhìn ra các cửa sổ lớn với mành che, và nhìn thẳng ra một khu vườn. Làm việc trong một môi trường như vậy dường như đã giúp mọi người nhận thức sâu sắc mối quan hệ cơ bản giữa con người với chất cảm vật liệu.

Văn phòng RCR

Phòng thảo luận, mô hình

Phòng thảo luận dự án và mô hình, một không gian tách biệt, thực sự là một kiệt tác, có thể liên tưởng nó như một phòng trà (teahouse) tại vùng đất Olot nghệ thuật và công nghiệp. Không gian được bao quanh bởi những bức tường cũ thô mộc. Mái được làm phẳng và chứa một lớp nước mỏng bên trên. Bên trong là một không gian tĩnh lặng, những tia sáng dịu nhẹ phản chiếu xuống sàn.Khi ngồi xuống, ta sẽ cảm thấy một cảm giác của sự tập trung vào một không gian hướng nội, trong khi đứng ta sẽ cảm thấy một mối giao hòa các thành phần công nghiệp của nhà xưởng, ngập ánh sáng và thảm thực vật, cây cối.

Văn phòng RCR

Việc lưu giữ nhà máy, nơi các tác phẩm nghệ thuật và đồ thủ công được đúc thủ công bằng kim loại, thực sự là một không gian phù hợp để suy nghĩ, tưởng tượng và thực hành kiến trúc. Nó được sắp xếp như một không gian thí nghiệm hoàn hảo cho những phân tích và sáng tạo của các kiến trúc sư. Bản chất của không gian bền vững này là việc sử dụng tòa nhà cũ để hưởng thụ ánh sáng tự nhiên, sử dụng nước và đem thảm thực vật vào không gian. Văn phòng này như một tu viện nhỏ cho nghiên cứu , nơi không chỉ các dự án được thực hiện mà còn là nơi có các không gian để trao đổi văn hóa, cũng như các buổi thảo luận, công bố được thực hiện bởi quỹ Bunka Foundation.

Bunka Foundation: Là một quỹ khởi xướng bởi các kts RCR cho việc nghiên cứu và thảo luận Kiến trúc, thiết kế đô thị , xây dựng và thiết kế tạo dáng công nghiệp.

KHÔNG GIAN

Từ góc nhìn thời gian, các dự án của RCR là số ít trong những thiết kế có nghiên cứu không gian kiến trúc đương đại sâu sắc nhất. Văn phòng này thực sự là bậc thầy về kiến tạo không gian bên trong và bên ngoài, họ bền bỉ tiếp nối kiến trúc hiện đại, phá bỏ những ranh giới, giới hạn giữa không gian nội thất và ngoại thất, bên trong và bên ngoài. Họ có khả năng tạo ra các không gian chuyển tiếp và không gian đệm một cách hoàn hảo, không chỉ là mối quan hệ trong – ngoài thường thấy. (filters and in-between spaces)

Công trình La Lira Thetre Public space ở Ripoll ( 2003-2011), đặt tại nơi từng là một nhà hát, là một ví dụ hoàn hảo. RCR làm việc trên những khoảng trống. Có thể thấy công trình này thô ráp chưa được gọt rũa, nhìn giống một bức điêu khắc của Jorge Oteiza, chưa hoàn thiện, bị chôn vùi một phần dưới lòng đất.

La lira thetre public space (Ảnh: Hisao Suzuki)

Nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật Alois Riegl đã viết trong cuốn “ Late Roman Art Industry” (1901) “ Từ một góc nhìn đơn thuần nhất, không gian được lấp đầy bởi “không khí” ,mỗi vật thể dường như tách biệt với phần còn lại. “Không khí” không phải là một cá thể vật chất mà là sự vắng mặt của vật chất ; và do đó không là gì cả (nothing). Không gian không thể chuyển thể một cách nguyên bản như một tác phẩm nghệ thuật cổ đại, bởi vì nó không thể xác định được bằng vật chất. Alois Riegl nhấn mạnh rằng trong lịch sử nghệ thuật, vật thể và không gian bên trong công trình từng được xác định, không phải là “không gian vô hạn giữa các cá thể vật chất riêng biệt”. Cuối cùng, bản chất của không gian là sự đầy ắp khoảng không và khoảng trống , ví dụ : chính là bản thân không gian đó. Thực tế không gian được tạo ra bởi các khoảng không vô định, nhưng chúng ta luôn nhìn thấy và chỉ cảm nhận được những đồ vật hữu hình. Công việc của RCR đã hoàn toàn cống hiến cho một kết quả cuối cùng, đó là sự hòa tan của đồ vật, vật chất với giới hạn, ranh giới không gian của chúng, phát triển đến tận cùng của khoảng trống.

Bathing pavilion in Tussolsbasil

Trong khi Enric Miralles, đặc biệt trong giai đoạn làm việc với Carme Pinos (văn phòng EMBT Architects), bị dẫn lối bởi sự trừu tượng, tập trung vào sự phá vỡ các không gian thông thường; thì qua nhiều năm RCR lại kiên nhẫn giải phẫu phân tách không gian thành các thành phần khác nhau : vật liệu, ánh sáng, sự mờ đục, sự chuyển tiếp- lọc, phản xạ, sự vô hình, môi trường,nhiệt độ, và xúc giác. RCR tập trung khai thác các khoảng trống và các góc nhìn. Họ đã áp dụng điều này cho một chiếc cổng chào của thị trấn Ripoll, tại Fageda d’en Jorda entrance pavilion (1993-1994), Bathing pavilion in Tussolsbasil (1995-1998), và Olot athetic track entrance pavilion ( 1991-2012).

Fageda d’en Jorda entrance pavilion
Bathing pavilion in Tussolsbasil

Không gian công cộng La lira tại Ripoll là một ví dụ cho khả năng của họ trong việc tạo ra một kết cấu mở như một dạng sân khấu, tạo ra một bộ lọc nhà kính (green – house – like filter), ở đó khối lượng của tòa nhà như bị triệt. Họ thiết kế cho thị trấn một không gian giao hòa, bắt đầu là một cây cầu bắc qua con kênh đối diện với phía nam và thị trấn, sau đó tỏa ra một đường viền lớn tại cửa ngõ đô thị, các tấm chớp được tách rời với bức tường, các thiết bị được đặt ở khoảng giữa này, và cho cây trồng được phát triển. Hai mảng đế tương phản với tỉ lệ con người, một mảng là những thanh thép đặc thô ráp, một mảng làm bằng kính là mặt tiền của một quán café nhỏ và lối vào cho phòng hội trường và hội thảo bên dưới.

la Lira

Công trình này một ví dụ khác cho sự phẫu thuật để tạo khoảng trống trong mạng lưới đô thị dày đặc, giúp tăng cường sự kết nối và không gian công cộng, được thiết kế cùng công trình Library and retirees centre ở Barcelona (2003-2007). Quảng trường Firalet (2003-2011, giai đoạn 1) , một không gian đô thị tại Olot được tạo ra giữa những tán cây, đèn và mặt đường bằng đá.

Library and retirees centre ở Barcelona

Quảng trường Firalet – Olot

TOPOPHILIA – TÌNH YÊU CỦA CON NGƯỜI VỚI NƠI CHỐN

Những dự án trong những khoảng trống của kiến trúc đương đại rất ít liên quan với việc thay đổi và xâm phạm. Sự phát triển ấn tượng này có thể gọi là “ topophilia” tình yêu của con người với nơi chốn. Ví dụ : sự vui thích , tìm kiếm và khả năng khám phá để tạo ra các không gian phục vụ tốt cho con người. Như những gì Gaston Bachelard định nghĩa trong The Poetics of Space ( 1957) như một “không gian hạnh phúc – happy space “; Trọng tâm trong các dự án của Christopher Alexander, hội tụ tại Pattern Languages, và như nhà địa lý Yi-Fu phát triển trong sách của ông. RCR tìm kiếm những mối quan hệ này trong các tỉ lệ, hình ảnh, sự tác động của bề mặt, hồi ức và sự thoải mái, nơi nhân tạo và tự nhiên hòa tan và xóa nhòa ranh giới.

Cảm nhận với một không gian cụ thể này hoàn toàn chính xác với nhận thức của chúng ta, ví dụ, ngồi tại một bàn ở LesCols Restaurant (2002-2003) : Khoảng cách giữa kết cấu nhẹ , vật chất hữu hình của bàn và ghế , tủ đựng rượu và dao dĩa, mối quan hệ không gian trong vùng không gian giao thoa; mối quan hệ cộng sinh với bên ngoài, không gian xanh; không gian còn lại giữa các bàn tiệc và tường chính xác là khoảng đi lại cho người bồi bàn. Kiến trúc của RCR rất nhiều không gian tuyệt vời như vậy, thiết kế hoàn toàn cho các giác quan của con người, song hành cùng mối quan hệ trong các thành phần kiến trúc, ánh sáng, bề mặt và hình ảnh . Tất cả tồn tại đồng thời với nhau một cách hoàn hảo.

Ảnh: FLAVIO CODDOU

The Marquee

HỆ THỐNG

RCR định nghĩa hệ thống kiến trúc theo một cách riêng. Hệ thống đó tóm gọn bởi tất cả các kĩ năng của họ, được đào tạo từng bước giống như những thiền sinh tu tập .Trong hệ thống này, họ tạo ra những khung nhìn cảnh quan và giải phẫu (phân tích) từng không gian, họ phá bỏ sự đối nghịch giữa thiên nhiên và con người, giữa vật hữu hình và sự vô hình, giữa nội thất và ngoại thất, giữa mở và đóng. Những hình dạng của những vật liệu hữu cơ trong hệ thống này với những dạng hình học quan trọng của trừu tượng và chủ nghĩa Tối giản. Công nghệ và vật liệu nhân tạo, như thép và kính, cho phép sự biến đổi hoàn toàn của công trình: Sự vô hình của hình dạng vật chất công trình và quay trở lại tới bản chất của tự nhiên.

Hệ thống kiến trúc của RCR có thể phù hợp với từng vấn đề và bối cảnh cụ thể. Chúng ta có thể hiểu được hệ thống này, nhưng chúng ta không bao giờ hết bất ngờ với những giải pháp cụ thể, giống như trường hợp của “El petit Comte’ Preschool ở Besalus (2005-2010). Tại dự án này, hình học trừu tượng được duy trì trong một lăng kính nằm ngang: những tia sáng chiếu xuống khu vực sân chơi của những đứa trẻ. Tại Besalu, sử dụng màu sắc là một giải pháp, cũng giống như màu sắc trên cửa sổ của Els Colour preschool ở Manlieu (2003-2004). Với những hàng trụ cột thép với đường kính khác nhau chuyển màu đưa đến bài học cơ bản về màu sắc như đồ chơi của những đứa trẻ.

El petit Comte’ Preschool Ảnh: Hisao Suzuki

Một lần tới thăm trường mầm non này, có sự xác nhận rằng đâu đó có nét tương đồng của RCR và SANAA: khối tích nằm ngang như một lăng kính, đục khoét bởi các khoảng sân trong cho phép hưởng thụ những góc nhìn, không gian chuyển tiếp, sự chính xác, tự nhiên , bề mặt và sự đa dạng trong phản xạ của kính. Nó chứng minh sự mãnh liệt, và cách làm việc nghiêm ngặt của họ, tất cả các vấn đề đều phải được giải quyết.

Ví dụ như vành đai phục vụ giữa các lớp học và không gian đa năng cho chăm sóc và kho, được thiết kế rất đẹp bằng các module và tủ bằng kính mờ. Ánh sáng bên trên và vật liệu của vành đai này đã tạo đặc trưng riêng của không gian đa năng.

El petit Comte’ Preschool Ảnh: Hisao Suzuki

KIẾN TRÚC LÀ CẤU TRÚC

Sự mạch lạc của cấu trúc, sự trùng hợp của kết cấu và hình dạng kiến trúc được thấy qua tất cả các dự án của RCR. Điều này trở thành một tuyên ngôn ở dự án “Office building on plaza de Europa” (2006-2011). dự án này phải bám theo khối tích thấp, dọc theo các khách sạn, văn phòng và các block chung cư, mặt bằng tổng thể thiết kế bởi Albert Viapalana. RCR đã tạo ra một hình thức phù hợp nhất với chỉ giới chiều cao, và công năng có vẻ như hết sức cơ bản.

Điểm đặc biệt ở công trình này chính là mạng lưới kết cấu với cột và dầm phẳng được lặp lại và hơi xoay theo bán kính có tâm tại Plaza de Europa, tạo nên sự bất ngờ với chỉ 1 thành phần duy nhất. Dự án này có thể làm gợi nhớ tới một kiệt tác nhà ở của Kiến trúc sư Richard Neutra ở California, và MASP ở Sao Paolo của Lina Bo Bardi, kết cấu đô thị lớn của Paulo Mendes da rocha, nhưng có lẽ phải nhắc đến sự tương đồng với chi tiết và hình thức của Mies Van der Rohe.

Plaça Europa 31 Ảnh: David Cardelús

Giải pháp này đã tạo ra những không gian rất tuyệt ở tầng 1 với ánh sáng, không gian này có thể gợi nhớ tới Law Faculty-Girona (1995 – 1999). Mạng lưới khung thép tạo cho không gian nội thất có sự kín đáo nhất định với các điểm nhìn từ bên ngoài, trong khi vẫn cho phép những góc nhìn lớn ra bên ngoài. Ở khía cạnh này, họ đã vượt qua giới hạn của đóng/mở.

Plaça Europa 31 Ảnh: David Cardelús
Library and retirees centre ở Barcelona

Law Facuty- Girona

Tại khu vực đô thị xung quanh Plaza de Europa, phần lớn các tòa nhà đều được phủ 1 lớp “ da” , thì công trình của RCR lại là 1 “cấu trúc”. Ở giữa đô thị mà các tòa nhà tự do chiếm ưu thế, công trình của RCR nhấn mạnh nhịp điêụ của những khung kết cấu.Tòa nhà văn phòng tiếp tục mạng lưới kết cấu từ tầng trệt. Tại vị trí lối vào gần nhất, công trình được thừa hưởng không gian nửa đóng, nửa mở, giống như một sảnh hay một không gian nghỉ.Hai khe sáng từ trên mái nâng cao chất lượng ánh sáng trong nội thất, ánh sáng và nước mưa chảy. Sân vườn tại vị trí này làm ta nhớ tới Barcelona Pavilion (1929) của Mies Van De Rohe .

Dự án cho Mediatheque ở Ghent (2010) thích ứng hoàn hảo với bối cảnh, có vị trí tại trung tâm lịch sử bên cạnh một con kênh. Không gian công cộng tự nhiên được thể hiện chính bằng sự mạch lạc trong cấu trúc và kết cấu của công trình, như Kts Luis Kahn từng thể hiện.

Law Facuty- Girona
Soulages Museum

SỰ HIỆN HỮU CỦA THỜI GIAN

Kiến trúc có vẻ giống với trường phái tối giản này, cuối cùng lại chỉ ra rằng sự ưu tiên không phải là tìm kiếm sự hiện diện vĩnh cửu, mà là sư tạo nên bởi những vật liệu cho phép thời gian tồn tại song hành, dần dần bộc lộ ra những dấu vết của năm tháng trên các lớp rêu phong của bề mặt. Tuy nhiên, không giống với các công trình tối giản chối bỏ sự xuất hiện của thời gian trên công trình. Các công trình của RCR vượt qua sự tạm thời hời hợt của xu hướng , mà tìm kiếm sâu sắc hơn ý nghĩa khác của sự tạm thời “denouement” (hồi kết) như khí hậu và các mùa trong năm. Họ kết hợp thời gian, ý thức được những dấu vết của sự hiện diện và sự vắng mặt. Một mối quan hệ đồng điệu với thời gian, được trải nghiệm bằng nắng, và mưa, gió và lá rụng của mùa thu. Thời gian – denouement- đơn điệu nhàm chán; nên là thời gian – tự nhiên – nuôi dưỡng và chữa lành.

Trong tất cả các dự án của RCR, vật liệu tạo nên những khối đặc và phân chia không gian, cho phép thời gian và tự nhiên đọng lại bằng nhiều cách khác nhau. Sự thể hiện này có thể coi như những kí ức của địa điểm, của thành phố và các tòa nhà. Dự án tại Lalira Theatre thể hiện lại kí ức về Ripoll, trong khi dự án xưởng đúc Barberi Foundry ở Olot họ lưu giữ kí ức hoạt động trên những bức tường.

Barberi’

QUÊN ĐI HÌNH THỨC

Khía cạnh bản chất của hệ thống kiến trúc của RCR là từ bỏ việc theo đuổi hình thức, hình dạng của công trình. Để gạt bỏ hình thức như ảnh hưởng bắt đầu, họ tránh những liên tưởng đến những khuôn mẫu hoặc hình ảnh có sẵn trong tâm trí. Điều quan trọng nằm ở ý tưởng và một quá trình sáng tạo (intense concept and the creative process). Hình thức, vật liệu và màu sắc sẽ được nhận thức dần dần qua những khám phá kiên nhẫn qua vị trí khu đất, nhiệm vụ thiết kế, các cuộc đối thoại với khách hàng và người sử dụng. Hình thức, vật liệu và các điểm nhìn sẽ hiện lên tại điểm cuối của quá trình này.

Quá trình này làm gợi nhắc đến kiến trúc sư Peter Zumthor với hình thức phụ thuộc vào từng khu đất, sử dụng vật liệu thể hiện tốt nhất ý đồ concept, củng cố công năng và làm cho thời gian được thể hiện theo năm tháng. Mặc dù RCR không theo đuổi sự hoàn hảo giống như kts người Thụy Sĩ .Chúng ta có thể nói về tranh chấp giữa tồn tại hay không tồn tại, hiện hữu và biến mất . Ở RCR, sự không tồn tại của hình thức, hình dạng công trình là phương tiện để đạt được cái tồn tại. Theo đuổi nghiên cứu triết học này cho cái nhìn thấy và cái trong suốt, câu nói của Derrida được cảm nhận sâu sắc bởi Bruno Taut, Scheerbart and Walter Benjamin, và vươn xa bởi các công trình của Peter Eisenman và Daniel Libeskind. RCR đã phát triển những dự án của sự không tồn tại và tồn tại.

Tại điểm này chúng ta có thể khám phá lại các khía cạnh của Thiền Phật giáo, nơi đề cao những khoảng không và không áp đặt lên nó một hình dạng xác định, khoảng không vận hành mà không có sự áp lực hoặc chủ định nào cả, vận hành một cách tự nhiên như hơi thở. Tuy nhiên, mặc dù RCR cũng chối bỏ sự tự tồn tại của hình thức định sẵn và để cho quá trình thiết kế được phát triển một cách chậm rãi tự nhiên, nhưng phương pháp làm việc của họ lại bao gồm những chủ đích dành cho tương lai, một khía cạnh tương đối khác với triết lý chiêm niệm thụ động của Thiền.

Soulages Museum

PHI VẬT CHẤT

Mặc dù kiến trúc của RCR có ảnh hưởng lớn bởi các khoảng không và vật liệu, nhưng vẫn luôn chứa đựng sự tìm tòi ngầm cho sự trong suốt, không giới hạn sự ẩn mình của vật chất, đó chính là không gian thuần chất. Kiến trúc sư người Nhật Kazuo Shinohara cho rằng người ta phải trải qua sự hỗn loạn của các đô thị lớn của Nhật để tiến tới một sự cân bằng sâu thẳm trong nội tâm. Đối với RCR, cách duy nhất để tồn tại ở một địa điểm đó là phi vật chất. Sự phi vật chất này được tạo nên bởi công nghệ và vật liệu mới. Kiến trúc chỉ có thể là một không gian khi nó hoàn toàn biến mất. Phi vật chất để tồn tại. Thích ứng với địa điểm để trở thành một địa điểm. Để thuộc về nơi chốn, chỉ có một lối đi an toàn: đó là sự biến mất, tan biến, như Paul Virilio nói trong Vẻ đẹp của sự biến mất “ The aesthetics of disappearance (1980) cho thế giới của công nghệ, truyền thông và tốc độ.

Các dự án của RCR nhắc chúng ta tới những gì Kiến trúc sư Franca Helg đã nói “ Tôi chỉ có những gì tôi cho đi” (I only have what I gave). Bằng cách biến mất, nó có thể xuất hiện lại với năng lượng mới. Để đạt tới một hình dạng không có hình dạng , nó là phi vật chất .

Mục đích này, được theo đuổi dài bởi RCR kể từ Les Cols pavilions (2002-2005) đến Marque (2007-2012) sự gộp của một nhà hàng và pavilion bên ngoài, được sử dụng cho tiệc cưới và các lễ kỉ niệm từ tháng 4 năm 2011. Không gian này nằm bên dưới một lớp kết cấu thép hình trụ và tấm polymer. Đây là một bước tiến gần hơn với phi vật chất , mục đích là tạo ra sự trong suốt trong không gian, vượt qua các giới hạn hướng tới các môi trường khác nhau. Sự trong suốt trong công trình Marquee and sự phản xạ của vật liệu bao che bếp, tủ giữ đồ, và vệ sinh. Các ranh giới này chìm trong đá ở 2 bên công trình, củng cố them tầm nhìn về một môi trường lơ lửng (floating environment)

Không gian Les Cois Marquee trở nên kì ảo vào ban đêm, sự trong suốt và ánh sáng tạo nên sự mờ ảo như những đám mây trôi giữa những tán cây trong một khu rừng, hay là một loại kiến trúc mới của dòng chảy hiện đại được phát triển bởi Kiến trúc sư Junya Ishigami, đặc biệt ở công trình Kangawa Institute of Technology Workshop. Kiến trúc biến mất hòa tan vào không gian như những đám mây, không gian như được dựng lên từ những thân cây mảnh mai, định nghĩa bằng sự di chuyển của con người, bàn và ghế được làm trong suốt hòa tan vào không gian.

Les Cols pavilions l ảnh :hotel-r.net

CÁC SƠ ĐỒ PHÂN TÍCH

Tại RCR, những phân tích trừu tượng , sự tích hợp kiến trúc với cảnh quan đều được bắt đầu với những bức phác thảo màu nước. Tất cả các dự án , các ý tưởng cốt lõi đều được bắt nguồn từ những bức màu nước nhỏ; các sơ đồ phân tích diagram cũng thỉnh thoảng được sử dụng.

Mục đích của các sơ đồ phân tích của RCR là để nắm bắt được trực giác mình và mục đích của dự án, cái gì là bản chất của đồ án. Nó có thể là vị trí công trình với cảnh quan, khu đất ; khối tích và hình dạng hình học ; nó được treo lên hay có mội phần ngầm xuống đất, mối quan hệ giữa các thành phần với nhau, chi tiết và bề mặt. Thực tế bề mặt và vật liệu được sử dụng thường được nghiên cứu trước đó.

Các bản vẽ bằng màu nước và các nghiên cứu về vật liệu bổ sung cho nhau, tìm tòi cho bản chất của dự án. Đây là chất lượng đạt mức độ của Thiền tịnh (Zen quality) . Chúng tồn tại như một lẽ tự nhiên đơn giản, không nhận thức, tự nhiên như hơi thở, nhưng họ không có ý định xác định kết quả hình dạng cuối cùng của dự án ngay lập tức. RCR tin rằng những phác thảo bằng bút lông là công cụ nhanh nhất và tốt nhất để thể hiện ý tưởng sơ khai. Nó cho phép họ sơ phác những ý tưởng bản chất mà chưa thể giải thích bằng lời và vẫn chưa có hình dạng cụ thể, lúc đó chỉ bằng những đường nét đơn giản nhất, giống như những bức thư pháp, họ có thể phác và định hướng dự án. Những phác thảo dạng này không thể thiếu trong các dự án của RCR, đã đóng góp không nhỏ cho chiến thắng tại cuộc thi Bảo tàng Soulages Museum (2009).Chúng ta có thể thấy những tương đồng nhất định giữa các bức vẽ của họa sĩ người Pháp, Soulages và các kiến trúc sư tại RCR.

Khi thăm lại những công trình trước đây của RCR, như Law Faculty ở Girona, sau nhiều năm hoạt động , chúng vẫn giữ được trạng thái ý tưởng ban đầu. Những trực giác nội tâm bên trong này, với sự chuyển dần khối tích trên ngọn đồi, trở nên hoàn hảo với thực tế , được lấp đầy với sắp xếp cho hoạt độngc ủa con người , ánh sáng. Tại Bell loc Wine cellers ở Palamos (2005-2007) , tại mỗi không gian vào các thời điểm khác nhau, ta có thể nhận thức được sức mạnh tồn tại của màu nước, định nghĩa khối lượng của không gian, khoảng trống của các gian triển lãm và những khe sáng hẹp. Cuối cùng, mỗi dự án là một điểm mốc trong sự kiên nhẫn tìm kiếm. Công trình Les Cois marquee hướng tới một mục đích: biến mất và tan chìm vào không gian cảnh quan xung quanh, mang đến một không gian cho ánh sáng và con người bên trong nó.

Phác thảo bảo tàng Soulages, Pháp
Phác thảo bảo tàng Soulages, Pháp
‘Els Colors’ Kindergarten
Các bức họa của họa sĩ Soulages trong 1 triển lãm l ảnh

THÍCH NGHI VỚI CUỘC SỐNG

Nền tảng cho những triết lý thiết kế của RCR. Họ suy nghĩ và thiết kế cho những cuộc sống đương đại: càng ngày con người càng muốn quay trở lại gần gũi với thiên nhiên hơn nữa và nhận thức được những khoảng trống, đồng thời con người cũng muốn sử dụng những phương tiện công nghệ hiện đại nhất.

Có một suy nghĩ vĩnh cửu trong triết lý này của RCR: Thích nghi với cuộc sống, giống như câu chuyện rất hay của Julio Cortazar “hướng dẫn leo một cái cầu thang”. RCR dạy chúng ta thích nghi với không gian của họ lại từ đầu, không chỉ là cách leo cầu thang mà còn là nấu ăn, cất giữ đồ, đi vệ sinh, rửa , giặt và ngủ. Các dự án của họ cũng giải quyết các thành phần của thiết kế công nghiệp , cần thiết cho cuộc sống hiện đại. Một bồn cầu được giấu kín trong tường, sử dụng cảm biến tự động xả nước trong một bồn rửa tay hoặc nhà tắm, hoặc ở một vài trường hợp sắp xếp những đồ đạc nhỏ xếp linh tinh vào những các module tủ. Một vài thành phần này bây giờ được sản xuất thành các sản phẩm công nghiệp. Khía cạnh này có thể liên tưởng tới những ngôi nhà của Frank Lloyd Wridge, những khám phá đồ dung sáng tạo của Ray và Charles Eames và trên tất cả các thiết kế của Mary và Russel Wright.

Các thiết kế này , có thể có các phản ứng trái ngược nhau, không thoải mái hoặc hài lòng. Thử tưởng tượng chúng ta không biết cách nào để mở một cánh cửa hoặc 1 cánh tủ, không tìm thấy công tắc, ổ cắm hoặc không thấy bồn vệ sinh đâu. Nhưng quá trình này là một quá trình chúng ta phải học để thích nghi trong kỉ nguyên của kĩ thuật số và phi vật chất.

Lagares WC
Lagares WC
Công trình Mas Del Vent
Roser house

Ví dụ điển hình nhất trong cách thiết kế này phải kể đến Mas Del Vent (2003-2010) hoặc Roser house ở Olot (2009-2011) một ngôi nhà từ đầu thế kỉ 20, được giữ lại tường và mái, nội thất được thay đổi với các khoảng thông tầng lớn và có những đường dốc và thang được cất dấu không nhìn thấy. Mục đích là để tạo ra không gian thuần khiết nhất chỉ với 2 bức tường không bị chi phối bởi các thành phần khác. Hai phòng, bếp phòng ăn và phòng khách không có giới hạn và đường biên. Tính riêng tư của không gian ở những tầng khác nhau. Lối vào, đường dốc và thang, phòng tắm và lò sưởi được dấu phía sau tấm màn che, dọc theo những bức tường cổ. Cách xử lý này làm mối quan hệ mở giữa view nhìn cảnh quan và ánh sáng mặt trời trực tiếp. Cuộc sống hàng ngày được sử dụng một cách tự do trong những không gian khoảng trống thuần khiết này.

Một chi tiết Wc trong Mas Del Vent

Kiến trúc của RCR trở thành một yêu cầu trong cuộc sống đương đại của chúng ta. Nó gồm những tham vọng, mở ra một tương lai không thể đoán trước. RCR đưa ra một hệ thống tiếp cận kiến trúc bằng concept và quá trình , tối giản các hình dạng và vật liệu sử dụng trong không gian, đưa không gian trở thành những khoảng trống thuần khiết nhất, nâng cao chất lượng cuộc sống con người.

Rafael Aranda, Carme Pigem và Ramon Vilalta


“Đây là bài viết thứ 2 trong 2 bài viết trên tạp chí kiến trúc El Croquis 162, tạp chí viết về các công trình từ năm 2007-2012 của văn phòng RCR. Những bài viết này phần nào khắc họa và đưa ra các phân tích tổng quan xoay quanh các nghiên cứu và các công trình của họ. Chúng tôi hi vọng rằng tài liệu này sẽ ít nhiều truyền thêm cảm hứng trong công việc hiện tại của các bạn.” – Dịch giả Đặng Ngọc Anh & Nguyễn Mạnh Hùng / 03.2017

P/S: Phần biên dịch không thể tránh khỏi các thiếu sót, chúng tôi mong sẽ nhận được góp ý và đóng góp thêm.

Đánh giá

6 thích
Upvote Downvote

Total votes: 6

Upvotes: 6

Upvotes percentage: 100.000000%

Downvotes: 0

Downvotes percentage: 0.000000%

Loading Facebook Comments ...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phần 2: Thế giới của RCR

đăng nhập

Thông qua tài khoản Mạng xã hội

Chưa có tài khoản?
đăng ký

Khởi tạo mật khẩu

Quay về
đăng nhập

đăng ký

Điền thông tin và bấm nút "Đăng ký"

Quay về
đăng nhập

Xin chào!

hoặc

Đăng nhập

Quên mật khẩu?

Chưa có tài khoản? Đăng ký

Đóng
của

    Đang xử lý file...