Đằng sau kiến trúc của Ricardo Bofill

Kiến trúc là một phép thử tinh tế cho tư duy mang tầm xã hội. Những cách xây dựng, cải tiến, phá dỡ mới liên tục được khám phá. Ricardi Bofill là kiến trúc sư sáng lập Taller de Arquitectura (1963). Ông khởi đầu sự nghiệp với những nguyên tắc thực tế vượt khỏi tư duy thông thường, nằm ngoài giới hạn của truyền thống Châu Âu. Văn phòng của ông trở nên nổi tiếng trong thời kì kiến trúc Hậu Hiện đại vào thập niên 70, 80, sản sinh ra một số công trình bê tông tiêu biểu ở Pháp. Nhưng đây cũng chỉ là một ví dụ nhỏ trong hành trình phát triển kiến trúc lâu dài.

Thời kì hiện đại chứng kiến nhiều đổi thay trong tư duy kiến trúc, đặc biệt là trong ứng dụng xi măng. Chung cư Abraxas do Bofill thiết kế ở ngoại ô Paris là một trong các công trình tiêu biểu nhất của ông đến nay. Tòa nhà đã chứng kiến nhiều thăng trầm từ sự đón nhận của công chúng cho đến nguy cơ phá dỡ tránh được vào phút chót. Abraxas là một biểu tượng văn hóa, phim ảnh mà đến nay vẫn không ngừng truyền cảm hứng sáng tạo cho thế hệ.

Trước ngày gặp Bofill ở Barcelona, tác giả đã thực hiện chuyến thăm ba công trình của ông theo tour. Bắt đầu ở Khách sạn W, một tòa nhà kính bên cảng, sau đó là Nhà hát Quốc gia phỏng theo hình ảnh đền Parthenon, tiếp theo đến Bach 4 – một khu chung cư nổi bật với các chi tiết độc đáo nằm trên phần mặt tiền khiêm tốn.

Bofill và tác giả đã có cuộc nói chuyện tại văn phòng Taller de Arquitectura, bên trong một nhà máy bê tông cũ ở ngoại ô Barcelona và cũng là nơi ở của kiến trúc sư. Xung quanh là những phác thảo quy hoạch mới cho Abraxas, hay một lời mời đóng góp tiếp cho Bofill để tô điểm hơn nữa cho một kiệt tác kiến trúc.

Ảnh: Thomas Jeppe

Quy tắc

Hãy bắt đầu câu chuyện ông có một tác giả, một họa sĩ, một nhà điêu khắc, một triết gia, kỹ sư và một nhà toán học cùng làm việc trên công trường trong những ngày đầu thành lập Taller de Arquitectura. Thành quả của cách làm việc này là gì?

Ngay cả trước khi làm kiến trúc, tôi đã luôn coi sự phân loại là một vật cản tri thức. Xếp vốn tri thức thành từng nhóm ngành nghệ thuật cũng tốt cho mục đích chuyên môn, nhưng đó không phải cách thế giới vận hành. Để hiểu được xã hội và nghệ thuật, con người phải phá vỡ ranh giới quy tắc. Kiến trúc là một lĩnh vực bao quanh logic riêng. Tôi muốn khai mở điều này và ứng dụng những cách làm mới mẻ hơn trong công việc của mình.

Ông đã sử dụng yếu tố thi ca như thế nào?

Chúng tôi từng làm việc với một nhà thơ tài ba tên José Agustin Goytisolo, cùng nhau giải mã kết cấu thi ca và ngôn từ. Từ điều này mà chúng tôi tiếp tục tìm cách chuyển giao vần thơ sang ngôn ngữ kiến trúc.

Ảnh: Thomas Jeppe
Ảnh: Thomas Jeppe

Sự cân bằng

Ảo mộng hay sự không tưởng có phải một yếu tố quan trọng trong ngày đầu làm nghề của ông không?

Tôi không biết phải gọi đó là ảo mộng hay sự sáng tạo. Ảo mộng – dòng chảy bất tận của sự tưởng tượng gần nghĩa hơn với sự viển vông. Sự sáng tạo thì cần có tập trung, liên kết các ý tưởng. Tôi đã tìm kiếm sự cân bằng trong suốt cuộc đời để đạt được tự do và sức sáng tạo tối đa. Nhưng sau cùng thì sự tự do tuyệt đối ấy không tồn tại.

Có lẽ điều này mới là mộng tưởng: Hiểu được điều không tưởng. Nhưng xây nên một không gian khiến mọi người cảm thấy tự do là một khả năng có thể nắm bắt và hiện thực hóa được. Từ đây mà vai trò tác động xúc cảm của kiến trúc trở nên thú vị hơn.

Tôi vốn luôn làm việc trong môi trường có kiểm soát về cảm xúc, và tôi cũng sống trong những không gian duy tính do chính mình thiết kế. Tôi nghĩ rằng những không gian như vậy gần đạt đến sự xuất sắc nhất. Tuy nhiên nhạy cảm với không gian không phải khả năng mà ai cũng có. Từ góc nhìn duy tính, sự nhạy cảm đó giúp con người hiểu được không gian. Với suy nghĩ này đã theo sát cả cuộc đời tôi, tôi thấy rất xúc động khi ở giữa biển khơi hay đứng trên muôn trùng núi, giữa sự bao la của sa mạc, hay khi đi trên những bậc thang do Michelangelo thiết kế.

Ông thường xây những công trình dày đặc về kết cấu. Tôi cảm thấy rằng những không gian có nhiều hình khối độc đáo và nhiều lớp ý nghĩa này không hề giấu đi một vẻ đẹp nhân tạo riêng, một phong cách rõ nét.

Tôi hay chiêm nghiệm về cuộc sống nói chung, đặc biệt coi nó như một vở ca kịch. Ví dụ như con đường Rambla de Catalunya ở Barcelona này là nơi mọi người đi lại, quan sát. Khi nhìn vào đó, ta thấy đây là một hình ảnh biểu tượng. Ở một khía cạnh nào đó, tôi muốn chỉ cho mọi người thấy sự lãng mạn riêng trong cả không gian đô thị. Abraxas là một minh chứng rất rõ cho quan điểm này.

Ảnh: Thomas Jeppe

Abraxas

Tôi lớn lên gắn bó với Brazil. Bước vào trong Abraxas giống như đi vào một nơi tôi đã biết rõ từ lúc bé. Abraxas có một vẻ lãng mạn, nhưng khác với cái thường thấy trong cuộc sống hàng ngày bởi công trình được nhấn mạnh về thiết kế đến mức không tưởng.

Tôi hoàn toàn đồng ý với miêu tả của anh, đó chính là hình dung của tôi về không gian này. Sau nhiều thử nghiệm từ trước, tôi muốn đẩy ranh giới kiến trúc đi xa hơn nữa. Mong ước của tôi là tạo ra một không gian ấn tượng đến mức những người không biết gì về kiến trúc cũng phải thừa nhận sự tồn tại của nó.

Công trình Abraxas

Có thể nói điểm giới hạn của Abraxas cũng gần với ranh giới của sự ảo mộng. Công trình này củng cố quan điểm của Michel Foucault về không gian đan xen giữa hiện thực và hư ảo. Bước vào Abraxas tôi có cảm giác rõ rệt về một không gian được hiện thực hóa chỉ từ khái niệm.

Khi xây công trình này, tôi là bạn thân của Michel Foucault. Chúng tôi thường nói về nhiều thứ, cùng chia sẻ nhiều quan điểm. Ông ấy là một nhà ngôn ngữ và triết gia tài ba. Tôi muốn những người đến thăm và sống ở Abraxas được trải nghiệm rõ vẻ đẹp duy tâm của không gian. Ngay cả với người thiết kế là tôi còn cảm thấy rất xúc động khi ở trong đó. Đã có nhiều lần công trình đứng trước nguy cơ bị phá dỡ nhưng điều đó đã không xảy ra. Tôi đã nói chuyện với nhiều người đến từ khắp nơi trên thế giới và họ đều nói rằng ở trong Abraxas là một trải nghiệm khó quên. Công trình có sức hút đặc biệt và không ai muốn rời khỏi đó. Cư dân ở Abraxas từng tổ chức một bữa tiệc quy tụ nhiều tầng lớp, lý lịch văn hóa trong xã hội dưới sự hỗ trợ của chính quyền thành phố. Sự kiện đặc biệt này chính là lý do đã khiến công trình vẫn còn trụ lại.

Ảnh: Thomas Jeppe

Sự tuyệt đối

Về hình thức, Abraxas mang một nét thẩm mỹ Baroque – một giai đoạn đặc biệt có tác động nhiều đến việc xây dựng các không gian công cộng. Nhưng tôi cũng thấy có dấu ấn của phong cách Tuyệt đối ở các công trình lớn mà ông thiết kế trong những năm 80. Với nền tảng chính trị và quan điểm kiến trúc hướng đến cộng đồng, ông nghĩ sao về những không gian Tuyệt đối?

Chưa ai từng mô tả phong cách của tôi như vậy. Anh đang nói đến Tuyệt đối theo nghĩa nào?

Theo cách mà các yếu tố biểu tượng, thẩm mỹ trong kiến trúc đều hướng đến một hạt nhân liên quan đến chính trị và bối cảnh. Một công trình Tuyệt đối ngày nay có thể không hoàn toàn ám chỉ điều này, nhưng vẫn gợi lên một tinh thần nhất định gắn liền với không gian trong đó.

Không gian Tuyệt đối là một hiện thân mang hàm ý rộng trong kiến trúc, nhưng không phải chuẩn quy chính. Có nhiều công trình trong lịch sử được xây dựng xung quanh một khái niệm cốt lõi. Đặc biệt là ở các công trình biểu tượng. Tuy nhiên có thể thấy sự thay đổi thường trực xuyên suốt không gian trong Abraxas, công trình không có điểm nhấn chính, thay vào đó đa dạng trong nhiều khía cạnh. Trường phái Baroque đã đem đến dòng chảy không gian, thời gian cho kiến trúc. Những công trình ảnh hưởng bởi điều này có thể kể đến Abraxas hay Walden 7.

Ảnh: Thomas Jeppe

Walden 7

Trong chuyến thăm Walden 7 tôi có thấy những dấu ấn tương tự như ở Abraxas. Công trình tổng hợp những yếu tố cầu kỳ và kiến trúc bản địa của Tây Ban Nha. Nếu Abraxas là một công trình Tuyệt đối mang chất liệu chính là bê tông, thì Walden 7 là biểu tượng của một loại kiến trúc truyền thống.

Đây là điều mà tôi rất thích. Tôi tin rằng ta cần tạo một hệ thống mới để truyền tải kiến trúc và chủ nghĩa đô thị. Tôi đã phát triển một lý luận mang tên “Đô Thị trong Không Gian”, cơ sở này nhằm mục đích hướng chức năng của đô thị tới việc phục vụ nhu cầu của con người và cộng đồng. Chỉ có một số ít công trình có thể được xây dựa trên lý thuyết này, trong đó có Walden 7.

Walden 7

Tôi hiểu rằng Walden 7 được thiết kế theo từng module giữa các căn hộ để tạo sự linh hoạt và tăng khả năng tùy chỉnh.

Chính xác, nhưng cuối cùng thì cư dân sẽ định hình Walden. Khi họ hài lòng với không gian sống thi sẽ để lại nhiều dấu ấn cá nhân hơn, từ đó gây dựng cộng đồng. Đây là điều mà tôi đã chiêm nghiệm ra nhiều sự tương đồng với các lĩnh vực khác.

Walden 7

Tính biểu tượng

Ông có nghĩ tính biểu tượng còn mang cùng định nghĩa so với khoảng 30 năm trước không?

Chúng ta đang sống trong một thời kỳ phức tạp, sẽ luôn có sự trao đổi giữa chủ nghĩa công năng và hình thức trong kiến trúc. Điều này tượng trưng cho các thái cực trong nhu cầu của con người. Định nghĩa biểu tượng gắn liền với thời kỳ Phục Hưng không còn phù hợp với quan điểm về đô thị bền vững ngày nay. Bây giờ là thời điểm con người bắt đầu tập trung vào yếu tố môi trường, điều kiện sống.

Kiến trúc sư nào cũng muốn để lại di sản gắn liền với phong cách của cá nhân họ. Nhưng tôi muốn kiến trúc bao quanh sự nghèo khó. Kiến trúc bản địa vùng Địa Trung Hải là nguồn cảm hứng đầu tiên của tôi với nghề. Trước khi làm kiến trúc, tôi đã thấy rằng kiến trúc ở Ibiza, Bắc Phi, Almeria ở Nam Tây Ban Nha hay Hy Lạp cũng đều giống nhau theo hình thức ở Địa Trung Hải. Sau đó tôi đã tìm hiểu sâu hơn về kiến trúc tại đây.

Về phía Nam, tôi đã khám phá ra bản chất của sự kiến tạo sa mạc theo góc nhìn kiến trúc xuất phát từ tự nhiên. Vật liệu chính là đá, còn năng lượng là gió, cát sản sinh ra khi đá tiếp xúc với gió. Đây là cách xây dựng của người Tuaregs (*), họ đã xây nên nhiều hình khối đơn giản dựa vào các vật liệu sẵn có ở giữa sa mạc Sahara, hình thành nên một nếp tư duy và sinh sống dựa trên bối cảnh, một triết lý sống rất khác với chúng ta. Tôi rất thích điều này vì nó có một vẻ quý phái riêng trong sự tối giản và khắc khổ. Tôi thấy rằng cái đẹp và sự xa hoa lại là những khái niệm khác hoàn toàn.

Ta có thể rút ra điều gì từ ý nghĩa biểu tượng trong kiến trúc của người Tuareg?

Điều đó là có thể ư?

Tôi không chắc, nếp sống của người Tuareg mang tính nhất thời, trong khi tính biểu tượng thì hướng đến sự lâu dài.

Rashim là một người bạn Tuareg của tôi – anh ta tự xây nhà với vật liệu riêng, bên trong nội thất nói lên nhiều điều về kiến trúc của họ.

Một ngôi nhà của người Tuareg ở sa mạc Sahara.

Đó có phải một ngôi nhà cố định?

Đúng vậy, văn hóa của người Tuareg thể hiện rất rõ từ nếp sống sang kiến trúc. Nhu cầu phân bố không gian, thời gian khiến cuộc sống của họ có sự hài hòa kể cả trong môi trường tự nhiên. Đó là lý do tôi đến sa mạc để hiểu về hình khối. Tôi học được nhiều thứ giữa những cồn cát ở Sahara hơn là trong một cung điện Pháp.

Ý của tôi là: Biểu tượng có ở khắp mọi nơi. Trong một khu vườn nhỏ ở Kyoto, một ngôi nhà của người Tuareg hoặc thậm chí là trong chính căn nhà của tôi.

Vậy sự biểu tượng không liên quan đến kích thước.

Không, biểu tượng gắn liền với lễ nghi trong cuộc sống. Thời đại ngày nay được định hình bởi các thái cực không rõ ràng. Trước năm 2000 đã có nhiều người dự đoán về tương lai, sau năm 2000 thì không còn nữa. Những ghi chép, tuyên bố theo từng giai đoạn đang trở nên quan trọng hơn trong giai đoạn này.

Ricardo Bofil. Ảnh: Thomas Jeppe

Tính bản địa

Bây giờ cũng đang là thời điểm kiến trúc bản địa đóng vai trò quan trọng, mang nhiều tiềm năng và có tác động vô hình.

Nhà ở Ibiza là công trình bản địa đầu tiên tôi thực hiện cho một người họ hàng. Tôi là một trong những người ngoại quốc đầu tiên đến Ibiza trong những năm 60. Tôi từng sống và làm việc ở Geneva, sau đó tôi cùng 4 người bạn từ lớp kiến trúc đã cùng chung tay thực hiện căn nhà. Trước khi mở cửa du lịch, vật liệu cho kiến trúc của Ibiza hoàn toàn từ địa phương như đá, gỗ. Từ những khối vuông mà người dân ở đây đã tạo nên kiến trúc mang đặc trưng vùng với nét tối giản, nguyên sơ đẹp đẽ. Kiểu kiến trúc xuất phát từ nhu cầu đơn giản của người dân. Với tôi điều này có sức tác động rất mạnh mẽ.

Ảnh: Thomas Jeppe

Đây có vẻ là sự cân bằng mà ông đang tìm kiếm?

Đúng vậy, đó cũng là thời kỳ cải tổ chính trị của Ibiza khi quyền tự do thể hiện được củng cố. Từ đó mọi tiềm năng đều được khai thác.

Ảnh: Thomas Jeppe

Âm nhạc

Lúc đó âm nhạc có quan trọng với ông không?

Có, đến giờ vẫn vậy.

Đó là loại nhạc nào?

Tùy vào nhịp điệu liên quan đến cảm xúc của tôi. Nếu tôi đang lo lắng thì nhạc của Bach sẽ phù hợp. Bach là nhạc sĩ yêu thích của tôi, nhưng ngoài ra còn có nhạc cổ truyền, nhạc pop, nhạc điện tử.

Tôi từng có một sinh viên mê nhạc điện tử làm trợ lý của mình. Khi nói chuyện với cậu ấy, tôi nhận thấy có nhiều sự tương đồng giữa nhạc điện tử và kiến trúc ở góc độ các ngành công nghiệp, trong nhịp điệu, sự tính toán, chi phối cảm xúc.

Nhạc điện tử rất quan trọng với tôi, kết cấu của nó có gì đó thật thu hút. Tương tự như khi lắng nghe một bản nhạc của Bach và cảm các tầng âm để hiểu ra bản chất. Bach giống như một nhà toán học trong lĩnh vực âm nhạc. Tôi nghe nhạc theo 2 cách, một là cảm tự nhiên, cách còn lại là nghe chủ động để đón nhận.

Ông đã bao giờ thiết kế một hộp đêm chưa?

Tôi từng thiết kế một hộp đêm ở Barcelona nhiều năm về trước, công trình giống như một nhà hát vậy.

Hẳn vậy rồi, ở đó chơi loại nhạc gì?

Nhạc disco của những năm 70, 80.

Tiêu chí ông đặt ra khi thiết kế công trình như vậy là gì?

Công trình cần đáp ứng mối quan hệ giữa không gian và thời gian, âm nhạc và kiến trúc. Tôi từng làm nhiều thính phòng tương tự và cố hiểu mối quan hệ kể trên trong một thời gian dài. Cơ bản thì tôi coi âm nhạc là một phương tiện đo thời gian, kiến trúc, không gian. Không gian và thời gian là hai khái niệm định hình nên bản chất con người, cũng là yếu tố liên kết con người trong một khuôn khổ.

Walden 7. Ảnh: Thomas Jeppe

Con người

Với sự quan tâm đến tỉ lệ con người như vậy, tại sao ông lại làm nhiều công trình quy mô rất lớn?

Tôi muốn đi từ công trình nhỏ đến lớn vì ba lý do. Đầu tiên, tôi quan tâm đến đô thị và quy hoạch. Thứ hai, các công trình nhỏ luôn có sự can thiệp nhiều từ khách hàng, cùng với đó là những yêu cầu khó khăn. Cuối cùng là thử thách đặt ra khi chuyển giao từ dự án nhỏ đến lớn, điều này đòi hỏi tôi phải nắm vững các bước nhỏ mang tính nhất thời, ngoài ra tôi cũng muốn dùng phương pháp thử sai trong quá trình. Khi công trình mở rộng về quy mô, nó sẽ mất tính cá nhân và duy tính.

Công trình Abraxas

Abraxas là sự chuyển tiếp rõ rệt về kiến trúc mang tính cá nhân cho tới cộng đồng. Nếu lớn hơn nữa thì rất khó kiểm soát. Nhưng quy mô không phải là tất cả. Tôi đã rất thành công khi tuổi nghề còn trẻ, có danh tiếng trong khoảng 30, 35 tuổi. Từ đó bài toán tiếp theo là tìm ra các giải pháp, cách sáng tạo mới mẻ hơn. Tôi không đi theo trường phái nào, thay vào đó quan tâm đến sự phát triển của từng tư tưởng kiến trúc riêng, chú trọng sự thử nghiệm.

Sự thử nghiệm khiến lượng công trình đa dạng của ông có một sự cố kết nhất định. Có thể ông từng có lúc thấy vô cùng mệt mỏi, vậy ông ăn mừng việc hoàn thành một dự án như thế nào?

Tôi không ăn mừng khi hoàn thành dự án mà tôi chủ động nắm bắt chúng. Đó là khoảnh khắp tập trung dẫn đến sự hài lòng. Tôi sẽ rất vui khi thành công trong việc phát triển ra một logic, hệ thống hay có cảm xúc. Nhưng khi hoàn thành công trình thì tôi chỉ thấy sự khiếm khuyết, những lỗi cá nhân. Đó không phải lý do để vui vẻ. Đó là sự đánh giá khắc khe nhất từ chính bản thân tôi vì các lý do thực tiễn, làm động lực cho sáng tạo trong tương lai. Cách tốt nhất để hiểu công trình của bản thân là đánh giá, so sánh với những gì đã có từ trước.

Ông có nói việc đi tiên phong rất quan trọng. Vị trí của ông ở đâu trong vai trò này?

Đi tiên phong là việc làm có ý nghĩa quan trọng về trách nhiệm và trí tuệ. Điều đó có nghĩa là tham gia kiến tạo tương lai. Nhưng sự dẫn đầu tuyệt đối thì không tồn tại. Khi còn trẻ, tôi từng nghĩ việc xây dựng một thứ gì mới là hoàn toàn khả thi. Giờ thì tôi thấy rằng một công trình mới có khoảng 20% thì đã là rất nhiều. “Mới” là một từ khóa quan trọng, nhưng xây dựng thì không chỉ dựa vào đó được, đấy là một suy nghĩ rất ngây ngô.

Ảnh: Thomas Jeppe
Ảnh: Thomas Jeppe

Từ đó có thể suy ra 80% các công trình vẫn mang hơi thở truyền thống. Dường như đã có lần ông từng nói ông đã cố tìm hiểu về các tầng lớp trung lưu, tư sản trong xã hội và những gia đình truyền thống, nhưng lý do là để biến đổi các giá trị này.

Tầng lớp tư sản xuất phát từ nền kinh tế, một giai cấp nằm trong một hệ thống có quy định của xã hội. Vấn đề là khi đặt tên cho một tầng lớp thì trong xã hội sẽ nảy sinh tiêu cực. Thêm một chút tầm nhìn thì ta có thể thấy hệ thống liên kết những giai cấp trong xã hội, nếu phá luật một cách khéo léo thì bất kỳ điều gì cũng là khả dĩ. Ranh giới lịch sử này rất mong manh và mọi thứ thú vị đều diễn ra xung quanh đó. Đi trên con đường này là công việc phức tạp và khó khăn nhất, không phải điều mà ai cũng làm được.

Nhiều công trình của ông gợi lên sự thử nghiệm với tri thức, kết cấu, lịch sử. Việc “chơi đùa” này có thể tượng trưng cho hành động đi trên ranh giới.

Và đó chưa bao giờ là điều dễ làm, để phá vỡ thì ta cần hiểu sâu vào sự phân chia giai cấp. Tôi đã sống ở Paris trong 20 năm và có rất nhiều liên hệ đến xã hội. Thời gian dài ấy đã giúp tôi làm quen với các cách gọi địa vị, ngoài ra còn có một câu chuyện khi tôi được mời dự một bữa tiệc lớn với sự tham dự của rất nhiều công ty lớn cùng những người quyền lực.

Tôi có hỏi một vị giám đốc tại sao lại có sự tham gia của những người trên, ông trả lời: “Tôi ở đây vì tôi có số 39, còn của anh là 40, còn người kia đứng ở vị trí X theo danh pháp giai cấp.” Đó là lúc tôi nhận ra mọi người ở đây tượng trưng cho sự phân bậc xã hội. Sau đó tôi đã bày tỏ mong muốn ra về vì không có nhu cầu “thăng tiến.”

Theo Thomas Jeppe


(*) Người Tuareg (còn được gọi Twareg hay Touareg; Amazigh: Imuhagh hay Itargiyen) là một dân tộc mục đồng du cư Berber. Họ là những người sinh sống chủ yếu ở nội địa Sahara của Bắc Phi. Dân tộc này tự gọi tùy người là Kel Tamasheq hay Kel Tamajaq (“người nói Tamasheq”), Imuhagh, Imazaghan, Imashaghen (“người tự do”), hoặc Kel Tagelmust, tức là “người đeo mạng che mặt”.

Đóng
Đóng

Đăng nhập

Đóng

Giỏ hàng (0)

Giỏ hàng đang trống Chưa có sản phẩm nào.